Thứ ba, 23-7-2024 - 8:44 GMT+7  Việt Nam EngLish 

Thị trường nông sản thế giới ngày 12/6: Giá tiêu tăng mạnh 

 Thứ tư, 12-6-2024

AsemconnectVietnam - Chốt phiên giao dịch ngày 11/6 giá tiêu, giá đường, giá lúa mì, giá dầu cọ tăng, trong khi giá ngô, giá đậu tương, giá ca cao, giá cà phê giảm, giá cao su vẫn trái chiều.

Tiêu tăng mạnh
Tại Indonesia, giá hạt tiêu đen Lampung tăng 12,65%; lên mức 6.451 USD/tấn. Còn giá hạt tiêu trắng Muntok của quốc gia này tăng 11,82%; ở ngưỡng 8.420 USD/tấn.
Tại Malaysia, giá hồ tiêu đen Kuching ASTA duy trì ổn định ở mức 4.900 USD/tấn; còn hồ tiêu trắng ASTA của quốc gia này vẫn có giá 7.300 USD/tấn.
Đối với thị trường Brazil, giá hạt tiêu đen ASTA 570 tăng 3,53%; lên mức 8.500 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l đang giao dịch ở mức 6.500 USD/tấn, còn loại 550 g/l giữ ở ngưỡng 6.700 USD/tấn. Còn giá hồ tiêu trắng xuất khẩu neo tại mốc 9.500 USD/tấn.
TEXIM Corp nhận định, Nhu cầu mạnh mẽ từ các thị trường truyền thống như Trung Quốc, Trung Đông và Mỹ/EU trong tuần qua đã củng cố niềm tin giá tiêu đen sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới.
Tuy nhiên, việc trồng hồ tiêu mới vẫn chưa được ghi nhận rầm rộ, do chi phí trồng tiêu mới đã trở nên đắt đỏ hơn so với trước đây. Bên cạnh đó là các loại cây nông sản khác mang lại lợi nhuận tốt hơn hạt tiêu đen như cà phê, ca cao, sầu riêng.
Một nguyên nhân khác cũng khiến giá hồ tiêu tăng cao ngoài yếu tố cung cầu thời gian qua, đó là tình trạng vận tải biển ngày càng đắt đỏ.
Tuần trước, loạt hãng tàu lớn có trụ sở tại Đài Loan (Trung Quốc) như Evergreen, Yang Ming và Wan Hai dự báo tình trạng ùn tắc ở các cảng ở châu Á sẽ chưa giảm bớt trong ngắn hạn, vì vậy, giá cước vận chuyển container sẽ neo cao cho đến quý 3/2024.
Giá đường tăng
Trên sàn ICE, giá đường thô kỳ hạn tháng 7/2024 tăng 0,16 US cent, tương đương 0,9% lên 18,79 US cent/lb.
Tương tự, trên sàn London, giá đường trắng kỳ hạn tháng 8/2024 tăng 0,4%, lên 546,5 USD/tấn.
Đồng real Brazil giảm xuống mức thấp nhất so với đồng USD kể từ tháng 01/2023, có thể thúc đẩy bán ra từ các nhà máy.
Theo các đại lý, thời tiết khô hạn ở khu vực trọng điểm Brazil khiến đẩy nhanh tốc độ thu hoạch, mặc dù vậy đây vẫn là mối lo ngại lớn.
Sản lượng đường toàn cầu niên vụ 2023/24 được ISO dự báo ở mức 179,270 triệu tấn, giảm so với mức 179,749 triệu tấn dự báo trước đó. Tiêu thụ cũng được dự kiến tăng từ mức 180,438 triệu tấn lên mức 182,224 triệu tấn.
ISO giữ nguyên dự báo sản lượng đường vụ 2023/24 của nhà sản xuất hàng đầu – Brazil ở mức 44,519 triệu tấn. Nhưng tổ chức này cũng thêm rằng, việc điều chỉnh giảm sản lượng đối với các khu vực bao gồm Bắc Mỹ được bù đắp bởi ước tính sản lượng cao hơn ở Thái Lan và Trung Quốc.
Cà phê giảm
Kết thúc phiên giao dịch, trên sàn London, giá cà phê Robusta giảm nhẹ, dao động từ 3.802 - 4.288 USD/tấn. Cụ thể, kỳ hạn giao hàng tháng 7/2024 là 4.288 USD/tấn (tăng 13 USD/tấn); kỳ hạn giao hàng tháng 9/2024 là 4.127 USD/tấn (giảm 1 USD/tấn); kỳ hạn giao hàng tháng 11/2024 là 3.977 USD/tấn (giảm 1 USD/tấn) và kỳ hạn giao hàng tháng 01/2025 là 3.802 USD/tấn (giảm 18 USD/tấn).
Tương tự, trên sàn New York, giá cà phê Arabica giảm mạnh. Cụ thể, kỳ hạn giao hàng tháng 7/2024 là 222,45 cent/lb (giảm 1,05%); kỳ giao hàng tháng 9/2024 là 222,70 cent/lb (giảm 0,98%); kỳ giao hàng tháng 12/2024 là 221,65 cent/lb (giảm 0,87%) và kỳ giao hàng tháng 03/2025 là 220,35 cent/lb (giảm 0,92%).
Tại Brazil, giá cà phê Arabica giảm nhẹ. Cụ thể, kỳ hạn giao hàng tháng 7/2024 là 281,85 USD/tấn (giảm 4,23%); kỳ giao hàng tháng 9/2024 là 273,00 USD/tấn (tăng 0,53%); kỳ giao hàng tháng 12/2024 là 270,00 USD/tấn (giảm 0,64%) và kỳ giao hàng tháng 3/2025 là 270,05 USD/tấn (giảm 3,59%).
Một số chuyên gia nhận định nếu tín hiệu nguồn cung từ Việt Nam và Brazil chưa sớm chuyển biến tích cực, cùng với giá cà phê thế giới trên các sàn giao dịch chính quay trở lại mức đỉnh lịch sử, thì yếu tố đầu cơ có thể sẽ được kích hoạt, đẩy giá cà phê trong nước quay lại mức đỉnh lịch sử.
Lúa mì, ngô, đậu tương: Giá lúa mì tăng
Trên sàn Chicago, giá lúa mì kỳ hạn tháng 7/2024 tăng 19 US cent tương đương 3,1% lên 6,26-1/2 USD/bushel, sau khi giảm xuống 6,05-1/2 USD/bushel – thấp nhất kể từ ngày 3/5/2024.
Giá lúa mì tại Mỹ tăng trở lại sau khi giảm 9 phiên liên tiếp, do hoạt động đẩy mạnh mua vào và lo ngại về sản lượng vụ thu hoạch tại nước xuất khẩu lúa mì hàng đầu Nga.
Theo chiều ngược lại, giá đậu tương kỳ hạn tháng 7/2024 giảm 10-1/4 US cent, xuống 11,78 USD/bushel và giá ngô giao cùng kỳ hạn giảm 2-1/4 US cent, xuống 4,49-1/2 USD/bushel.
Giá dầu cọ tăng
Giá dầu cọ tại Malaysia tăng, do dự báo sản lượng hạt cải dầu giảm làm lu mờ sản lượng đậu tương của Mỹ tăng.
Trên sàn Bursa Malaysia, giá dầu cọ kỳ hạn tháng 8/2024 tăng 14 ringgit tương đương 0,36% lên 3.933 ringgit (833,79 USD)/tấn.
Ca cao giảm
Trên sàn London, giá ca cao giao kỳ hạn tháng 9/2024 giảm 65 bảng Anh, tương đương 0,9% xuống 7.261 bảng Anh/tấn.
Theo đó, trên sàn New York, giá ca cao kỳ hạn tháng 9/2024 giảm 2,7% chốt ở 8.916 USD/tấn.
Kể từ đầu vụ (01/10/2023) đến ngày 9/6/2024, lượng ca cao chính vụ cập cảng tại nước trồng hàng đầu Bờ Biển Ngà đạt 1,537 triệu tấn, giảm 28% so với cùng kỳ vụ trước.
Trong tổng số 29.000 tấn ca cao cập cảng từ ngày 03 đến ngày 09/6/2024, gồm 13.000 tấn được giao đến cảng Abidjan và 16.000 tấn đến cảng San Pedro, sụt giảm so với cùng giai đoạn năm 2023.
Cao su trái chiểu
Tại Sở giao dịch hàng hóa Tokyo (TOCOM), giá cao su giao kỳ hạn tháng 7/2024 giảm 0,76% ,lên mức 351,7 yen/kg.
Ngược lại, trên Sàn giao dịch hàng hóa tương lai Thượng Hải (SHFE), giá cao su giao kỳ hạn tháng 7/2024 tăng 5%, ở mức 15.845 nhân dân tệ/tấn.
Thời gian qua, nguồn cung cao su trên thế giới hạn chế. Việc khai thác cây cao su ở Thái Lan và Trung Quốc đã bị ảnh hưởng bởi điều kiện thời tiết không thuận lợi.
Theo báo cáo mới nhất của Hiệp hội các nước sản xuất cao su tự nhiên (ANRPC), sản lượng cao su tự nhiên toàn cầu trong tháng 4 đạt 747 nghìn tấn, tăng 2,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong khi đó, tiêu thụ cao su tự nhiên dự kiến đạt 1,28 triệu tấn tăng 2,5% so với tháng 4/2023. Như vậy, trong tháng 4, thị trường thế giới bị thâm hụt 533 nghìn tấn.
N.Hao
Nguồn: VITIC
 

  PRINT     BACK

© Bộ Công Thương- Trung tâm Thông tin Công Nghiệp và Thương mại (VITIC)

Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 115/GP-TTĐT, cấp ngày 03/6/2024.

Địa chỉ: Tòa nhà Bộ Công Thương, số 655, Phạm Văn Đồng, Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, Phòng 605, Tầng 6.

ĐT: (04)39341911; (04)38251312 và Fax: (04)38251312


Email: Asemconnectvietnam@gmail.com;

Ghi rõ nguồn "Asemconnectvietnam.gov.vn" khi đăng lại thông tin từ kênh thông tin này

Số lượt truy cập: 25713219614