Xuất khẩu sắt thép Việt Nam năm 2025: Áp lực giá gia tăng, kim ngạch suy giảm
Thứ bảy, 10-1-2026
AsemconnectVietnam - Theo số liệu của Cục Hải quan Việt Nam, trong năm 2025, cả nước xuất khẩu hơn 10,06 triệu tấn sắt thép, đạt kim ngạch khoảng 6,63 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2024, sản lượng xuất khẩu giảm hơn 20%, trong khi giá trị xuất khẩu giảm trên 27%. Giá xuất khẩu bình quân đạt 658,55 USD/tấn, giảm 8,47% so với cùng kỳ, phản ánh bức tranh kém tích cực của ngành thép xuất khẩu trong năm qua.
Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ tình trạng dư cung trên thị trường thế giới, sự cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia xuất khẩu lớn như Trung Quốc, Ấn Độ và Nga, cùng với nhu cầu suy yếu tại các nền kinh tế phát triển. Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp thép Việt Nam buộc phải chấp nhận mức giá thấp hơn để duy trì thị phần, dẫn đến giá trị xuất khẩu giảm mạnh, dù khối lượng xuất khẩu vẫn đạt quy mô tương đối lớn.
Riêng tháng 12/2025, xuất khẩu sắt thép của Việt Nam ghi nhận sự phục hồi rõ rệt về sản lượng, với 844.676 tấn, tăng 31,1% so với tháng 11 và tăng 16,14% so với cùng kỳ 2024. Kim ngạch đạt 547,8 triệu USD, tăng 24,54% theo tháng và 2,87% theo năm, cho thấy nhu cầu nhập khẩu có cải thiện. Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân chỉ đạt 648,55 USD/tấn, giảm 5% so với tháng trước và giảm 11,43% so với cùng kỳ, phản ánh áp lực giảm giá vẫn lớn. Điều này cho thấy tăng trưởng kim ngạch chủ yếu đến từ gia tăng sản lượng, trong khi giá bán tiếp tục chịu sức ép, làm hạn chế mức tăng giá trị xuất khẩu.
Trong năm 2025, Campuchia là thị trường xuất khẩu sắt thép lớn nhất của Việt Nam, với 1,46 triệu tấn, kim ngạch 832,4 triệu USD, chiếm 14,5% về lượng và 12,56% về trị giá. So với năm 2024, xuất khẩu sang thị trường này tăng trưởng tích cực, với lượng tăng 21,36% và trị giá tăng 12,43%. Kết quả này cho thấy nhu cầu thép tại Campuchia vẫn ở mức cao, trong khi thép Việt Nam có lợi thế nhờ vị trí địa lý gần, chi phí logistics thấp và quan hệ thương mại ổn định. Tuy nhiên, tốc độ tăng trị giá thấp hơn sản lượng cho thấy giá xuất khẩu bình quân đã giảm so với năm trước.
Ấn Độ đứng thứ hai với 921.805 tấn, đạt 716,08 triệu USD, chiếm 9,16% về lượng và 10,81% về trị giá. So với năm 2024, sản lượng xuất khẩu tăng 19,9% trong khi trị giá chỉ tăng 2,61%, cho thấy giá xuất khẩu chịu áp lực giảm mạnh do cạnh tranh gay gắt từ nguồn cung nội địa và các quốc gia trong khu vực. Giá xuất khẩu bình quân đạt 776,83 USD/tấn, giảm 14,42% so với cùng kỳ, phản ánh rõ xu hướng giảm giá dù thị trường vẫn hấp thụ khối lượng lớn thép Việt Nam.
Đứng sau Ấn Độ là Italy, với 1,1 tấn, đạt 680,11 triệu USD, tương ứng 10,98% tổng lượng và 10,26% tổng kim ngạch xuất khẩu sắt thép của Việt Nam trong năm 2025. Trái ngược với Campuchia và Ấn Độ, xuất khẩu sang Italy ghi nhận xu hướng giảm rõ rệt, khi lượng giảm 14,74% và trị giá giảm 15,91% so với năm 2024. Sự sụt giảm này phản ánh nhu cầu thép tại châu Âu vẫn ở mức thấp, do tăng trưởng kinh tế chậm, chi phí năng lượng cao và các quy định môi trường ngày càng nghiêm ngặt, trong đó có cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM). Điều này đặt ra thách thức lớn đối với thép Việt Nam tại thị trường EU, buộc doanh nghiệp phải đẩy mạnh đầu tư vào công nghệ sản xuất xanh và nâng cao tiêu chuẩn chất lượng để duy trì và mở rộng thị phần trong thời gian tới.
Đáng chú ý, xuất khẩu sang Mỹ sụt giảm rất sâu, chỉ đạt hơn 807 nghìn tấn, trị giá khoảng 531 triệu USD, giảm trên 50% về lượng và gần 60% về trị giá so với năm trước. Điều này cho thấy tác động mạnh của các biện pháp phòng vệ thương mại, chính sách ưu tiên thép nội địa và sự chững lại của hoạt động xây dựng, sản xuất tại Mỹ.
Tại khu vực châu Á, các thị trường như Malaysia và Indonesia giảm mạnh cả về lượng và trị giá, trong khi Thái Lan và Philippines tăng trưởng tích cực, đặc biệt Thái Lan tăng gần 75% về lượng và hơn 48% về trị giá, phản ánh sự khác biệt về chu kỳ đầu tư và chính sách hạ tầng giữa các quốc gia ASEAN.
Bên cạnh đó, một số thị trường nhỏ và mới nổi như Đức, Nga, Trung Quốc, Argentina, Kuwait và Bangladesh ghi nhận mức tăng trưởng rất cao, thậm chí hàng trăm đến hàng nghìn phần trăm. Tuy nhiên, do quy mô còn nhỏ, tỷ trọng dưới 1%, mức tăng này chủ yếu phản ánh nền so sánh thấp của năm 2024, đồng thời cho thấy nỗ lực đa dạng hóa thị trường của doanh nghiệp thép Việt Nam.
Ở chiều ngược lại, nhiều thị trường như Anh, Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, UAE và Hồng Kông (Trung Quốc) giảm rất sâu, từ 40% đến gần 90% cả về lượng và trị giá, chủ yếu do suy thoái kinh tế, chi phí xây dựng cao và các yêu cầu nhập khẩu ngày càng khắt khe.
Xuất khẩu sắt thép năm 2025 cho thấy ngành thép Việt Nam đang đối mặt với nhiều thách thức lớn. Sự suy giảm mạnh về kim ngạch phản ánh áp lực kép từ nhu cầu yếu và giá bán thấp. Tuy nhiên, việc duy trì được quy mô xuất khẩu trên 10 triệu tấn, cùng với sự tăng trưởng tại một số thị trường khu vực và thị trường mới, cho thấy năng lực cạnh tranh và khả năng thích ứng của doanh nghiệp thép Việt Nam. Trong thời gian tới, để cải thiện hiệu quả xuất khẩu, ngành thép cần tập trung nâng cao chất lượng sản phẩm, đa dạng hóa thị trường, đồng thời chủ động thích ứng với các tiêu chuẩn môi trường và thương mại ngày càng khắt khe trên thị trường quốc tế.
|
Thị trường
|
12 Tháng/2025
|
Tăng giảm so với
12tháng/2024 (%)
|
Tỷ trọng (%)
|
|||
|
Lượng (tấn)
|
Trị giá (USD)
|
Lượng
|
Trị giá
|
Lượng
|
Trị giá
|
|
|
Tổng Cộng
|
10.062.733
|
6.626.847.213
|
-20,26
|
-27,02
|
100
|
100
|
|
Campuchia
|
1.458.972
|
832.422.363
|
21,36
|
12,43
|
14,5
|
12,56
|
|
Ấn Độ
|
921.805
|
716.083.394
|
19,9
|
2,61
|
9,16
|
10,81
|
|
Italy
|
1.105.056
|
680.113.256
|
-14,74
|
-15,91
|
10,98
|
10,26
|
|
Mỹ
|
807.076
|
531.090.753
|
-51,68
|
-59,73
|
8,02
|
8,01
|
|
Malaysia
|
650.233
|
417.492.192
|
-24,65
|
-27,44
|
6,46
|
6,3
|
|
Indonesia
|
577.335
|
341.467.425
|
-9,67
|
-16,79
|
5,74
|
5,15
|
|
Đài Loan (Trung Quốc)
|
506.969
|
339.996.630
|
1,77
|
-6,45
|
5,04
|
5,13
|
|
Bỉ
|
442.645
|
329.040.279
|
-43,29
|
-45,99
|
4,4
|
4,97
|
|
Tây Ban Nha
|
352.025
|
259.823.097
|
-49,44
|
-51,46
|
3,5
|
3,92
|
|
Australia
|
389.943
|
242.633.436
|
32,22
|
22,81
|
3,88
|
3,66
|
|
Hàn Quốc
|
253.696
|
234.676.849
|
-16,26
|
-35,84
|
2,52
|
3,54
|
|
Thái Lan
|
285.745
|
220.487.831
|
74,97
|
48,39
|
2,84
|
3,33
|
|
Philippines
|
253.554
|
117.888.928
|
42,21
|
24,63
|
2,52
|
1,78
|
|
Anh
|
143.142
|
101.263.506
|
-52,6
|
-55,82
|
1,42
|
1,53
|
|
Brazil
|
175.404
|
98.006.897
|
-47,83
|
-50,51
|
1,74
|
1,48
|
|
Ba Lan
|
110.340
|
96.117.937
|
40,3
|
25,68
|
1,1
|
1,45
|
|
Thổ Nhĩ Kỳ
|
74.215
|
71.718.992
|
-76,38
|
-55,59
|
0,74
|
1,08
|
|
Nhật Bản
|
56.548
|
67.128.767
|
-49,67
|
-29,02
|
0,56
|
1,01
|
|
Singapore
|
125.906
|
65.099.239
|
-46,03
|
-47,54
|
1,25
|
0,98
|
|
Lào
|
65.355
|
47.719.127
|
50,31
|
52,78
|
0,65
|
0,72
|
|
Đức
|
65.645
|
32.693.071
|
1,392,95
|
481,05
|
0,65
|
0,49
|
|
Trung Quốc (Đại lục)
|
21.308
|
29.072.177
|
226,31
|
175,7
|
0,21
|
0,44
|
|
UAE
|
10.971
|
11.241.387
|
-63,74
|
-38,6
|
0,11
|
0,17
|
|
Nga
|
9.516
|
8.172.949
|
756,53
|
576,6
|
0,09
|
0,12
|
|
Saudi Arabia
|
10.333
|
7.706.334
|
30,38
|
18,28
|
0,1
|
0,12
|
|
Hồng Kông (Trung Quốc)
|
10.565
|
5.304.423
|
-88,05
|
-89,21
|
0,1
|
0,08
|
|
Myanmar
|
5.360
|
4.300.865
|
-34,92
|
-40,05
|
0,05
|
0,06
|
|
Achentina
|
4.781
|
3.073.207
|
2,403,14
|
773,85
|
0,05
|
0,05
|
|
Kuwait
|
2.977
|
2.237.379
|
3,817,11
|
2,596,64
|
0,03
|
0,03
|
|
Bangladesh
|
1.471
|
1.079.291
|
162,21
|
127,66
|
0,01
|
0,02
|
|
Ai Cập
|
209
|
208.336
|
-78,48
|
-79,29
|
0
|
0
|
|
Pakistan
|
159
|
205.252
|
24,22
|
18,41
|
0
|
0
|
Nguồn: VITIC

