Thị trường lúa mì thế giới tháng 12/2025
Thứ năm, 1-1-2026
AsemconnectVietnam - Giá lúa mì thế giới tháng 12/2025 giảm tại hầu hết các nước xuất khẩu lớn trên thế giới, ngoài trừ mức tăng nhẹ ở Canada, Mỹ và EU.
Cụ thể, giá lúa mì Achentina giảm 7 USD/tấn xuống 208 USD/tấn do dự kiến vụ mùa kỷ lục và vẫn là mức giá thấp nhất toàn cầu. Giá lúa mì Nga giảm xuống mức thấp nhất trong hai tháng rưỡi, giảm 5 USD/tấn xuống 227 USD/tấn do áp lực nguồn cung toàn cầu. Giá lúa mì Úc giảm 1 USD/tấn xuống 250 USD/tấn do dự kiến vụ thu hoạch bội thu. Giá lúa mì Mỹ và Canada đều tăng 2 USD/tấn lên lần lượt 250 USD/tấn và 265 USD/tấn nhờ xuất khẩu mạnh mẽ vào đầu năm giao dịch. Giá lúa mì EU tương đối ổn định, tăng 1 USD/tấn lên 229 USD/tấn.
Giá lúa mì Biển Đen tiếp tục chịu áp lực từ nguồn cung dồi dào tại các cảng sau vụ thu hoạch bội thu và sự cạnh tranh gay gắt từ triển vọng mùa màng khả quan hơn ở Nam bán cầu tại Achentina và Úc. Sự cạnh tranh gia tăng đang buộc các nhà xuất khẩu Nga phải giảm giá để duy trì khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế, một xu hướng dự kiến sẽ tiếp tục đến đầu năm 2026.
Giá lúa mì EU dự kiến sẽ phải đối mặt với áp lực ngắn hạn từ sự cạnh tranh với nguồn cung từ Achentina và Nga, đặc biệt ảnh hưởng đến doanh số bán hàng sang Bắc và Tây Phi. Giá lúa mì dự kiến sẽ tăng và đạt đỉnh vào đầu quý 1/2026, sau đó tùy thuộc vào thời tiết, sẽ giảm dần cho đến khi thu hoạch do nguồn cung dồi dào.
Giá lúa mì Úc dự kiến sẽ giảm mạnh hơn vào đầu năm 2026, do biến động theo nguồn cung lúa mì toàn cầu, mặc dù hạn chế về năng lực xuất khẩu do doanh số bán các loại cây trồng vụ đông khác tăng mạnh có thể hỗ trợ giá.
Đáng chú ý, năm 2025 xuất khẩu lúa mì Biển Đen sang Đông Nam Á giảm đáng kể. Theo số liệu của CAS, trong 11 tháng năm 2025, lượng lúa mì xuất khẩu số lượng lớn từ Ukraine và Nga sang các nước Đông Nam Á đã giảm ít nhất 50% so với cùng kỳ năm ngoái, trong khi lượng xuất khẩu từ Bulgaria và Romania giảm mạnh hơn, lần lượt là 88% và 95%.
Người mua lúa mì châu Á đã giảm mua lúa mì vùng Biển Đen sau những vấn đề về chậm trễ vận chuyển và giá giao ngay cao giữa tháng 7 và tháng 8/2025, do vụ thu hoạch lúa mì giàu protein bất ngờ tăng cao, làm giảm nguồn cung lúa mì thức ăn chăn nuôi để xuất khẩu và sự gia tăng nhu cầu giao ngay từ các gói thầu của chính phủ ở Trung Đông và châu Phi. Tuy nhiên, nguồn cung lúa mì vụ mới của Úc khan hiếm hiện đang có lợi cho xuất khẩu từ Biển Đen, thu hút sự quan tâm từ người mua châu Á đối với các lô hàng đến đầu quý 1/2026.
Nga: Sản lượng lúa mì của Nga dự báo sẽ giảm nhẹ trong niên vụ 2026/27 (tháng 7/2026-tháng 6/2027) do nông dân chuyển sang trồng các loại cây lấy dầu có lợi nhuận cao hơn, có khả năng làm thắt chặt nguồn cung ngũ cốc toàn cầu và định hình lại dòng chảy xuất khẩu qua Biển Đen bất chấp khối lượng vận chuyển mạnh mẽ từ khu vực này.
Việc gieo trồng ngũ cốc vụ đông ở Nga cho vụ thu hoạch năm 2026 đã hoàn tất. Điều kiện thời tiết nhìn chung thuận lợi, giúp cây trồng phát triển đúng như kỳ vọng và hỗ trợ các dự báo ban đầu về một vụ thu hoạch tốt.
S&P Global Energy CERA dự báo sản lượng lúa mì của Nga đạt 84,1 triệu tấn trong niên vụ 2026/27, giảm so với 88,2 triệu tấn trong niên vụ 2025/26. SovEcon dự báo sản lượng thấp hơn ở mức 83,8 triệu tấn, phản ánh diện tích trồng lúa mì giảm từ 26,9 triệu ha trong vụ này xuống còn 26,3 triệu ha vào năm tới.
Viện Nghiên cứu Thị trường Nông nghiệp (IKAR) ước tính vụ thu hoạch sắp tới đạt 86 triệu đến 91 triệu tấn, diện tích lúa mì vụ đông vẫn gần bằng năm ngoái và điều kiện mùa màng được báo cáo là tốt hơn cho đến nay.
Thị trường xuất khẩu lúa mì của Nga đã trải qua một xu hướng giảm đáng kể kể từ giữa tháng 11/2025, chủ yếu ảnh hưởng đến lúa mì có hàm lượng protein 12,5%.
Các lô hàng xuất khẩu lúa mì của Nga dự kiến sẽ tiếp tục tăng mạnh. CERA dự báo xuất khẩu lúa mì của Nga hiện ở mức 43 triệu tấn, nhưng tốc độ xuất khẩu mạnh mẽ liên tục từ Nga và khả năng tăng hạn ngạch lên gần 20 triệu tấn vào ngày 15/2 có thể dẫn đến việc điều chỉnh dự báo.
Ukraine: Triển vọng sản lượng lúa mì trong niên vụ 2026/27 có khả năng tích cực, nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi hỗ trợ tốt cho sự phát triển ban đầu của cây trồng và tạo điều kiện ban đầu tốt cho giai đoạn đông so với các mùa vụ trước.
Xuất khẩu lúa mì dự kiến sẽ tăng trong nửa cuối niên vụ 2025/26 khi Ukraine tìm cách tối đa hóa xuất khẩu, do năng lực lưu trữ hạn chế. Chi phí hậu cần nội địa cao vẫn là yếu tố chính khiến giá xuất khẩu cao trong tháng 11 và tháng 12/2025.
EU: CERA dự báo sản lượng lúa mì của EU cho niên vụ 2026/27 đạt 132,9 triệu tấn, giảm 9 triệu tấn so với ước tính niên vụ 2025/26.
Theo báo cáo của Ủy ban châu Âu vào tháng 10/2025, điều kiện gieo trồng lúa mì vụ đông ở EU nhìn chung thuận lợi tại các vùng sản xuất chính như Pháp và Ba Lan, trong khi lượng mưa kéo dài ở vùng Balkan đã làm chậm trễ công việc đồng áng.
Úc: Hiện đang trên đà thu hoạch vụ lúa mì bội thu hơn nhờ thời tiết được cải thiện ở hầu hết các bang. Cục Kinh tế và Khoa học Tài nguyên Úc (ABARES) dự báo sản lượng lúa mì niên vụ 2025/26 cao hơn 4% ở mức 35,6 triệu tấn trong báo cáo mới nhất ngày 2/12, nằm ở mức thấp hơn trong ước tính thương mại từ 35-37 triệu tấn. Hàm lượng protein trung bình của cây trồng dự kiến sẽ cao hơn ở Bờ Đông và Nam Úc so với Tây Úc. Lợi nhuận của các loại cây trồng vụ đông khác có thể làm giảm doanh số bán lúa mì của Úc trong ngắn hạn do năng lực vận chuyển, dẫn đến giá lúa mì Úc kém cạnh tranh hơn ở Đông Nam Á.
Về triển vọng lúa mì toàn cầu cho niên vụ 2025/26, USDA dự báo nguồn cung, tiêu thụ, thương mại và tồn kho cuối kỳ đều cao hơn. Nguồn cung dự kiến tăng 7,5 triệu tấn lên 1.097,8 triệu tấn nhờ sản lượng tăng từ một số nước xuất khẩu chính. Sản lượng của Canada ước tính tăng 3 triệu tấn, đạt mức kỷ lục 40 triệu tấn theo dự báo sản lượng cuối cùng năm 2025/26 của Cơ quan Thống kê Canada. Sản lượng của Achentina ước tính tăng thêm 2 triệu tấn, đạt mức kỷ lục 24 triệu tấn nhờ điều kiện thuận lợi trên diện rộng trong suốt mùa vụ, đặc biệt là ở Buenos Aires, vùng sản xuất lúa mì lớn nhất. Sản lượng của EU ước tính tăng 1,7 triệu tấn, đạt 144 triệu tấn dựa trên số liệu thống kê chính thức cập nhật của chính phủ một số quốc gia. Cả Úc và Nga đều được dự báo tăng 1 triệu tấn, lần lượt lên 37,0 và 87,5 triệu tấn.
Thương mại thế giới dự báo tăng 1,5 triệu tấn lên 218,7 triệu tấn nhờ xuất khẩu tăng của Úc, Canada và Achentina, bù đắp cho sự sụt giảm của Thổ Nhĩ Kỳ và Ukraine. Nhập khẩu tăng từ Indonesia, Algeria, Libya và Philippines. Dự báo tồn kho cuối kỳ toàn cầu năm 2025/26 tăng 3,4 triệu tấn lên 274,9 triệu tấn, chủ yếu do sự gia tăng ở một số quốc gia xuất khẩu Nga, Canada, EU và Achentina, ngược lại, lượng tồn kho cuối kỳ thấp hơn ở Úc và Indonesia.
Giá nông sản trung bình theo mùa của Mỹ được dự báo không đổi ở mức 5 USD/bushel.
USDA dự báo tiêu thụ toàn cầu trong năm 2025/26 tăng 4,1 triệu tấn lên 823 triệu tấn, chủ yếu do nhu cầu thức ăn chăn nuôi và cho các mục đích khác cao hơn ở Canada, Achentina, EU, Indonesia và Ukraine.
Hiện các nước mua lớn như Ai Cập vẫn thận trọng mua lúa mì, có thể trì hoãn việc mua hàng khi họ chờ đợi mức giá thuận lợi hơn từ vụ thu hoạch ở bán cầu nam sắp tới. Ai Cập đã đảm bảo đủ lúa mì để đáp ứng nhu cầu trong nước đến hết tháng 2/2026.
Nhập khẩu lúa mì từ Thổ Nhĩ Kỳ dự kiến sẽ tăng sau khi hạn hán nghiêm trọng ảnh hưởng đến sản lượng trong nước. Nhập khẩu dự báo sẽ tăng trong nửa sau của mùa vụ khi lượng dự trữ lúa mì của Thổ Nhĩ Kỳ bắt đầu giảm.
USDA đã điều chỉnh dự báo nhập khẩu lúa mì của Thổ Nhĩ Kỳ lên 7,3 triệu tấn trong niên vụ 2025/26, hơn gấp đôi so với 3,3 triệu tấn của năm ngoái do điều kiện hạn hán nghiêm trọng, làm giảm mạnh sản lượng trong nước.
N.Nga
Nguồn: VITIC/USDA/Reuters/Spglobal
Nhập khẩu sắt thép giảm sâu trong 11 tháng 2025
Thị trường kim loại thế giới ngày 7/1: Vàng và đồng đồng loạt tăng mạnh, đồng lập đỉnh lịch sử
Giá quặng sắt có thể giảm xuống 94 USD/tấn vào năm 2026
ICRA: Nhu cầu thép tại Ấn Độ sẽ tăng 8% trong năm tài chính 2025/2026
Thị trường thép cuộn cán nóng toàn cầu chịu áp lực trong năm 2025
Trung Quốc sẽ tiếp tục kiểm soát chặt sản xuất và xuất khẩu thép giai đoạn 2026–2030
Xuất khẩu thép cuộn cán nóng (HRC) của Ấn Độ phục hồi mạnh trong tháng 11/2025
GMK Center dự báo: Sản lượng thép năm 2026 có thể giữ ở mức 7,2 triệu tấn
Aco Brasil: Sản lượng thép Brazil có thể giảm trong năm 2026
Fitch Ratings dự báo thị trường thép toàn cầu phục hồi nhẹ vào năm 2026
Xuất khẩu thép của Trung Quốc đạt gần 10 triệu tấn trong tháng 11
Nhập khẩu quặng sắt của Trung Quốc dự kiến đạt 1,24 tỷ tấn trong năm 2025
Giá phân bón thế giới giảm trong tháng 12/2025
Thị trường ngô giới tháng 12/2025

Xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2025 và mục tiêu năm 2026
Năm 2025, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đạt kỷ lục 920 tỷ USD.Nhập khẩu máy móc, thiết bị từ các thị trường 11 tháng năm ...
Xuất khẩu thủy sản 11 tháng năm 2025 trị giá 10,32 tỷ USD
Những nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang Nga trong 11 ...
Xuất khẩu sắt thép 11 tháng năm 2025 giảm cả lượng và kim ...

