Thứ năm, 3-4-2025 - 9:31 GMT+7  Việt Nam EngLish 

Tình hình kinh tế Pháp và thương mại với Việt Nam trong năm 2024 

 Thứ tư, 25-12-2024

AsemconnectVietnam - Pháp là nền kinh tế lớn thứ bảy trên thế giới, lớn thứ hai trong Khu vực đồng Euro, là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam trong Liên minh châu Âu (EU). Sau khi trải qua một năm khó khăn 2023, kinh tế nước này đã có những chuyển biến tích cực trong năm nay.

Theo Tradingeconomics.com, nền kinh tế Pháp tăng trưởng 0,4% trong quý III/2024 so với quý II/2024. Đây là mức tăng trưởng mạnh nhất trong ba quý, chủ yếu nhờ sự phục hồi mạnh mẽ trong tiêu dùng hộ gia đình (0,6% sau khi giữ nguyên trong quý II), đáng chú ý là do chi tiêu cho dịch vụ tăng (0,9% so với 0,5%), được thúc đẩy bởi Thế vận hội Paris. Chi tiêu của chính phủ cũng duy trì mức tăng trưởng ổn định ở mức 0,3%. Ngược lại, đầu tư cố định chứng kiến ​​mức giảm sâu hơn (-0,7% so với -0,1%), chủ yếu là do hàng sản xuất giảm mạnh (-4,2% so với -1,4%). Thương mại ròng cũng ảnh hưởng đến GDP, khi xuất khẩu giảm 0,8% (so với 0,6%), trong khi nhập khẩu giảm vừa phải hơn 0,6% (so với 0,1%). So với năm ngoái, nền kinh tế Pháp năm nay tăng trưởng 1,2%, điều chỉnh giảm so với ước tính sơ bộ là 1,3%, nhưng tăng so với mức tăng trưởng 0,9% của quý trước.[1]
Tốc độ tăng trưởng GDP của Pháp năm 2019-2023 và dự báo 2024-2027 (% thay đổi so với năm liền trước)
2019
2020
2021
2022
2023
2024
2025
2026
2027
1,84
-7,54
6,32
2,53
0,87
0,74
1,44
1,57
1,46
Nguồn: Statista.com
Công nghiệp-thương mại
Theo Tradingeconomics.com, chỉ số PMI sản xuất của HCOB Pháp giảm xuống 43,1 vào tháng 11/2024, đánh dấu tháng thứ 22 liên tiếp suy giảm và là tháng suy giảm mạnh nhất kể từ tháng 1/2024. Đơn đặt hàng mới giảm với tốc độ mạnh nhất kể từ tháng 5/2020, do nhu cầu trong nước và quốc tế yếu, đặc biệt là từ Hoa Kỳ và Đức. Điều này dẫn đến việc cắt giảm đáng kể hoạt động mua hàng và mức tồn kho, với các công ty ưu tiên bảo toàn dòng tiền. Sản lượng cũng giảm mạnh, đặc biệt là trong các lĩnh vực như xây dựng, mỹ phẩm và ô tô. Việc làm tiếp tục giảm, mặc dù chủ yếu là do không thay thế được lao động tạm thời. Về giá cả, chi phí đầu vào tăng vừa phải, nhưng áp lực cạnh tranh buộc các công ty phải giảm giá bán ở mức lớn nhất trong hơn một năm. Dự báo, kinh tế vẫn ảm đạm do vẫn bi quan về triển vọng sản xuất trong 12 tháng tới, phản ánh mối lo ngại về nhu cầu và sự bất ổn kinh tế.
Theo Tradingeconomics.com, trong tháng 10/2024, thâm hụt thương mại tại Pháp thu hẹp xuống còn 7,7 tỷ euro so với mức 8,4 tỷ USD trong tháng 9/2024. Xuất khẩu tăng 0,9% lên 48,7 tỷ euro, chủ yếu nhờ doanh số bán các sản phẩm dầu mỏ tinh chế và than cốc tăng (+24,4%) và các sản phẩm nông nghiệp, lâm nghiệp, đánh bắt và nuôi trồng thủy sản (+3,7%). Xuất khẩu tăng sang tất cả các khu vực chính, cụ thể là Liên minh châu Âu (+0,7%), Châu Phi (+0,5%), Châu Mỹ (+5,4%), Trung Đông (+0,7%) và Châu Á (+3,9%). Trong khi đó, nhập khẩu giảm 0,5% xuống còn 56,4 tỷ euro, chủ yếu do lượng mua các sản phẩm dầu mỏ tinh chế và than cốc giảm (-2,2%) và thiết bị vận tải (-6,5%). Trong số các khu vực, nhập khẩu giảm từ Liên minh châu Âu (-0,6%), Châu Mỹ (-1,4%) và Châu Á (-3,7%)
 Thương mại Việt Nam- Pháp
Trong những năm gần đây, quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Pháp đã chứng kiến những bước phát triển đáng kể, đặc biệt là sau khi Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam và Liên minh Châu Âu (EVFTA) chính thức có hiệu lực. Pháp với vai trò là một trong những nền kinh tế lớn nhất của châu Âu, đã trở thành một đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam trong khu vực.
Hiệp định Thương mại tự do EVFTA đã trở thành một động lực quan trọng cho quan hệ thương mại hai chiều, thúc đẩy xuất khẩu và nhập khẩu giữa hai nước thông qua việc giảm thiểu các rào cản thương mại và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, Hiệp định này cũng giúp Việt Nam củng cố vị thế của mình trên thị trường châu Âu, đồng thời mở rộng cánh cửa cho các sản phẩm Pháp vào thị trường Việt Nam.
Những năm gần đây, thương mại hai chiều giữa Việt Nam và Pháp nhìn chung tăng trưởng ở mức ổn định, với kim ngạch thương mại đạt trung bình 4,94 tỷ USD trong giai đoạn từ 2020-2023. Việt Nam chủ yếu xuất khẩu sang Pháp các mặt hàng như dệt may, giày dép, thủy sản, và nông sản, trong khi nhập khẩu từ Pháp các sản phẩm công nghiệp như máy móc, thiết bị, dược phẩm, hóa chất.
Tương lai quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Pháp hứa hẹn sẽ ngày càng phát triển mạnh mẽ hơn nữa, nhất là khi hai bên tiếp tục khai thác hiệu quả các lợi thế từ EVFTA. Việt Nam và Pháp cũng đang nỗ lực thúc đẩy hợp tác trong các lĩnh vực mới như công nghệ xanh, phát triển bền vững và chuyển đổi số để đối phó với các thách thức toàn cầu như biến đổi khí hậu... Những nỗ lực này không những góp phần vào sự tăng trưởng kinh tế của mỗi quốc gia mà còn củng cố mối quan hệ giữa hai nước, tạo ra một môi trường hợp tác bền vững giữa Việt Nam và Pháp trên nhiều phương diện.
Đặc biệt, với việc EVFTA đi vào thực thi, quan hệ thương mại giữa hai nước đang phát triển theo hướng có lợi cho Việt Nam và xu hướng này sẽ còn tiếp tục trong thời gian tới nhờ cơ cấu hàng xuất khẩu của Việt Nam phù hợp với phân khúc thị trường tâm trung và thấp tại Pháp. Việc đẩy mạnh xuất khẩu sang thị trường Pháp đòi hỏi các chiến lược toàn diện và bài bản từ phía Việt Nam. Pháp không chỉ là một thị trường có nhu cầu cao về chất lượng sản phẩm mà còn có các tiêu chuẩn khắt khe về môi trường và xã hội.
Tình hình xuất khẩu của Việt Nam sang Pháp
Theo số liệu thống kê từ Trademap, trong năm 2023, Việt Nam là nguồn cung hàng hoá lớn thứ 22 của Pháp, chiếm tỷ trọng 0,9% trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa của Pháp. Đứng đầu trong danh sách này là các thị trường: Đức, Trung Quốc, Bỉ, Italy, Hoa Kỳ…
Trong khi đó, theo số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, tổng kim ngạch thương mại hai chiều Việt Nam và Pháp năm 2023 đạt 4,81 tỷ USD, giảm 9,88% so với năm 2022. Trong đó, xuất khẩu đạt 3,17 tỷ USD, giảm 14,2% so với năm 2022; nhập khẩu đạt 1,63 tỷ USD, giảm 0,11% so với năm 2022.
Trong năm 2023, kim ngạch xuất khẩu sang Pháp đạt 3,17 tỷ USD, chiếm 0,89% tỷ trọng trên tổng kim ngạch xuất khẩu hàng hoá của Việt Nam. Trong đó đứng đầu là những nhóm hàng như: điện thoại các loại và linh kiện (561,98 triệu USD); giày dép các loại (518,97 triệu USD); hàng hóa khác (426,77 triệu USD); hàng dệt, may (413,32 triệu USD); máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác (264,38 triệu USD)…
Theo tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong năm nay, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Pháp tăng mạnh. Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Pháp trong 11 tháng đầu năm nay đạt 3,1 tỷ USD, tăng 7,61% so với cùng kỳ năm ngoái.
Xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang Pháp trong 11 tháng đầu năm 2024
Đơn vị: USD
Tên nhóm/mặt hàng
T11/2024
11 T/2024
Trị giá
(USD)
So với T10/2024 (%)
So với T11/2023
(%)
Trị giá
(USD)
So với 11T/2023 (%)
TỔNG TRỊ GIÁ
316.516.650
5,31
14,77
3.111.670.869
7,61
Giày dép các loại
48.420.152
-6,75
17,31
518.293.249
8,16
Điện thoại các loại và linh kiện
26.045.173
-24,88
-46,92
497.612.775
-8,41
Hàng dệt, may
50.483.052
-4,51
34,56
459.016.075
19,43
Hàng hóa khác
33.241.849
11,28
26,98
339.208.822
-12,32
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
42.012.265
48,6
59,62
268.143.518
33,39
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác
38.426.232
25,49
27,11
260.787.102
11,55
Gỗ và sản phẩm gỗ
14.252.302
15,51
24,46
104.162.182
15,87
Túi xách, ví,vali, mũ và ô dù
8.444.417
13,27
35,83
89.089.332
27,53
Phương tiện vận tải và phụ tùng
4.613.213
3,74
-13,63
67.616.704
-17,31
Cà phê
7.580.281
56,95
154,48
65.045.935
64,21
Hạt điều
4.366.322
-21,07
19,29
55.758.959
23,54
Hàng thủy sản
5.387.279
20,79
9,55
49.025.828
-12,26
Sản phẩm từ chất dẻo
4.109.449
7,23
-2,71
47.296.556
-3,38
Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận
3.675.640
42,08
79,19
37.774.787
28,96
Hàng rau quả
4.214.509
41,98
17,9
37.522.220
25,31
Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc
2.616.137
-26,23
-9,17
35.337.416
28,78
Sản phẩm mây, tre, cói và thảm
4.016.010
8,09
-32,32
33.320.942
9,97
Đá quý, kim loại quý và sản phẩm
6.122.927
52,92
60,2
32.714.197
4,39
Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày
1.678.110
1,75
73,85
21.947.822
37,4
Hạt tiêu
469.264
-71,17
-74,07
21.595.878
56,26
Sản phẩm từ sắt thép
1.876.410
-5,74
34,79
19.357.045
16,22
Sản phẩm từ cao su
1.254.134
8,31
3,51
16.332.049
28,08
Sản phẩm gốm, sứ
2.463.608
-20,9
41,34
16.227.283
30,82
Cao su
287.441
-84,9
47,75
10.937.312
131,15
Dây điện và dây cáp điện
382.592
-32,85
-5,7
4.235.913
-6,88
Gạo
77.883
-87,17
-81,61
3.310.968
15,77
.Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam
Nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ Pháp
Theo tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong năm nay, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ Pháp cũng tăng mạnh. Cụ thể, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ Pháp trong 11 tháng đầu năm nay đạt 1,7 tỷ USD, tăng 15,68% so với cùng kỳ năm ngoái.
Nhập khẩu hàng hóa Pháp vào Việt Nam trong 11 tháng đầu năm 2024
Đơn vị: USD
Tên nhóm/mặt hàng
T11/2024
11 T/2024
Trị giá
(USD)
So với T10/2024 (%)
So với T11/2023
(%)
Trị giá
(USD)
So với 11T/2023 (%)
*TỔNG TRỊ GIÁ
159.598.543
-37,01
8,31
1.758.136.664
15,68
Dược phẩm
47.873.648
22,02
-3,25
505.920.790
22,8
Hàng hóa khác
27.751.393
14,43
3,75
280.311.918
4,38
Phương tiện vận tải khác và phụ tùng
18.214.346
-84,84
172,82
244.774.364
122,64
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác
20.465.326
-4,08
45,52
204.071.034
-8,87
Gỗ và sản phẩm gỗ
5.082.790
-25,59
-23,54
93.110.632
1,59
Chất thơm, mỹ phẩm và chế phẩm vệ sinh
5.644.452
21,14
-2,35
64.922.060
3,25
Sản phẩm hóa chất
6.208.537
11,82
2,46
58.583.870
5,01
Sữa và sản phẩm sữa
5.211.681
25,08
-38,11
45.117.645
-25,49
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
2.209.591
-43,66
-23,79
38.685.483
67,01
Đá quý, kim loại quý và sản phẩm
3.445.526
-28,92
86,98
27.993.802
72,49
Chất dẻo nguyên liệu
2.981.475
0,51
37,51
27.709.666
38,84
Thức ăn gia súc và nguyên liệu
2.595.476
10,02
50,66
26.960.907
18,16
Chế phẩm thực phẩm khác
1.976.523
16,55
-10,91
20.406.310
23,06
Sắt thép các loại
1.979.960
39,36
-9,39
18.289.483
-23,15
Hóa chất
1.463.547
-19,02
-33,55
16.744.160
2,94
Sản phẩm từ chất dẻo
1.330.331
-14,48
-22,32
15.189.164
-4,15
Vải các loại
1.052.083
-39,4
8,52
9.775.051
-20,45
Sản phẩm từ sắt thép
938.166
0
50,32
9.474.322
-9,21
Thuốc trừ sâu và nguyên liệu
165.146
-86,31
-90,02
8.911.215
13,3
Cao su
576.108
-19,11
-17,76
8.778.067
-23,61
Sản phẩm từ cao su
257.375
-28,41
-32,43
7.025.501
14,61
Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày
317.312
-21,87
-29,39
5.917.795
5,81
Nguyên phụ liệu thuốc lá
796.851
92,38
1,71
4.667.896
-14,22
Dây điện và dây cáp điện
315.222
-0,57
-60,4
4.512.705
-64,66
Kim loại thường khác
138.579
-40,22
221,66
3.480.646
40,21
Ô tô nguyên chiếc các loại
 
 
 
2.133.403
9,82
Quặng và khoáng sản khác
26.537
-19,98
 
2.092.862
80,56
Nguyên phụ liệu dược phẩm
345.179
168,99
185,2
1.702.139
-4,41
Giấy các loại
235.382
112,35
 
873.776
55,21
 
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam
Một số chính sách nổi bật
Đối với lĩnh vực năng lượng, Pháp đã và đang đầu tư vào các nguồn năng lượng tái tạo để giảm sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch, với mục tiêu đạt được 40% sản lượng điện từ các nguồn tái tạo vào năm 2030.
Đối với lĩnh vực giao thông vận tải bền vững, Chính phủ Pháp hỗ trợ phương tiện tiêu thụ điện và phát triển cơ sở hạ tầng để đạt 35% doanh số bán ô tô chở khách chạy bằng điện hoặc hydro mới vào năm 2030 và 100% vào năm 2040. Khuyến khích cải thiện hiệu suất năng lượng của các phương tiện hạng nhẹ và hạng nặng, sử dụng ít nhiên liệu đốt hơn (với mục tiêu 4l/100 km vào năm 2030 đối với phương tiện cá nhân sử dụng động cơ đốt trong).
Về nền kinh tế tuần hoàn và carbon zero trong các ngành công nghiệp, Chính phủ Pháp yêu cầu doanh nghiệp kéo dài tuổi thọ của các sản phẩm giảm tác động tới môi trường: bắt buộc sản phẩm điện và điện tử tiêu dùng phải có khả năng sửa chữa, tạo thuận lợi cho việc sửa chữa sản phẩm với các phụ tùng thay thế sẵn có. Chính phủ Pháp cũng hỗ trợ mạnh mẽ cho tài chính xanh thông qua các chương trình trợ cấp toàn diện như hỗ trợ thuế và phát triển các công cụ tài chính, một chiến lược khí hậu rõ ràng cho Pháp mà tất cả các khoản đầu tư công phải phù hợp và giữ vị trí hàng đầu với tư cách là nhà phát hành trái phiếu Chính phủ xanh.
Pháp cũng đã giảm 10% chất thải sinh hoạt và chất thải tương đương cho mỗi cá nhân vào năm 2020, giảm chất thải phát sinh từ các hoạt động kinh tế trên một đơn vị giá trị sản xuất, đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng và công trình công cộng so với năm 2010. Đổi mới sáng tạo toàn diện trong thiết kế sản phẩm, tăng cường tái sử dụng, tái chế đối với sản phẩm hữu cơ đến 55% vào năm 2020 và 65% vào năm 2025 đối với chất thải không độc hại, đặc biệt là thiết bị điện và điện tử, dệt may và đồ nội thất...
Chính phủ Pháp đảm bảo thu hồi năng lượng đối với chất thải không thể tái chế bằng công nghệ hiện có và bắt nguồn từ các hoạt động thu gom hoặc phân loại riêng biệt được thực hiện tại các cơ sở chuyên dụng.
Pháp cũng là quốc gia đã chuyển đổi việc làm trong nền kinh tế xanh khi đẩy mạnh đào tạo để tìm kiếm cơ hội việc làm trong các lĩnh vực xanh và xanh hóa. Năm 2018, Bộ Lao động, Việc làm, Dạy nghề và Đối thoại xã hội Pháp đã phát động chương trình có tên gọi "10Kverts" nhằm thúc đẩy khả năng tiếp cận của thanh niên và người tìm việc làm trong các ngành nghề "xanh".
T.Hường
Nguồn: Vitic


 
 
 
 

  PRINT     BACK

© Bộ Công Thương- Trung tâm Thông tin Công Nghiệp và Thương mại (VITIC)

Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 115/GP-TTĐT, cấp ngày 03/6/2024.

Địa chỉ: Tòa nhà Bộ Công Thương, số 655, Phạm Văn Đồng, Quận Bắc Từ Liêm, Hà Nội, Phòng 605, Tầng 6.

ĐT: (04)39341911; (04)38251312 và Fax: (04)38251312


Email: Asemconnectvietnam@gmail.com;

Ghi rõ nguồn "Asemconnectvietnam.gov.vn" khi đăng lại thông tin từ kênh thông tin này

Số lượt truy cập: 25722454139