Kinh tế Đức và thương mại hàng hóa với Việt Nam năm 2024
Thứ ba, 24-12-2024
AsemconnectVietnam - Năm nay, kinh tế Đức vẫn tiếp tục suy thoái như năm ngoái. Những vấn đề mang tính cơ cấu dài hạn như thiếu hụt nghiêm trọng lao động có tay nghề, nhiều năm thiếu đầu tư vào cơ sở hạ tầng và tình trạng quan liêu quá mức, đang kìm hãm sự tăng trưởng của Đức.
Cụ thể, theo Tradingeconomics.com, kinh tế Đức tăng 0,1% trong quý III/2024, sau mức giảm 0,3% trong quý II/2024 và thấp hơn mức tăng trưởng 0,2% trong quý 1/2024. Trong quý III/2024, tiêu dùng hộ gia đình tăng 0,3%, phục hồi sau mức giảm 0,5% trong quý II, trong khi tăng trưởng chi tiêu của chính phủ chậm lại từ 1,6% xuống 0,4%. Đầu tư cố định cũng giảm với tốc độ chậm hơn (-0,1% so với -2,1%), do sự sụt giảm nhỏ hơn trong xây dựng (-0,3% so với -2,2%) và máy móc và thiết bị (-0,2% so với -3,4%). Trong khi đó, thương mại ròng đóng góp tiêu cực vào GDP, khi nhập khẩu tăng 0,2% (so với 1,2%) trong khi xuất khẩu giảm 1,9% (so với 0,2%). Trên cơ sở hàng năm, nền kinh tế giảm 0,3%, bằng với tốc độ của giai đoạn trước và giảm nhiều hơn so với ước tính ban đầu là giảm 0,2%. [1]
Sản xuất-thương mại
Theo Tradingeconomics.com, chỉ số PMI sản xuất HCOB Đức đạt mức 43 trong tháng 11/2024, tương tự mức của tháng 10/2024. Các số liệu cho thấy lĩnh vực sản xuất vẫn đang trong tình trạng suy thoái vào giữa quý 4/2024. Tốc độ giảm của cả sản lượng và đơn đặt hàng mới đã chậm lại trong tháng thứ hai liên tiếp nhưng vẫn mạnh, trong khi việc làm, hoạt động mua hàng và chứng khoán giảm nhanh hơn. Trong khi đó, nhu cầu yếu và áp lực cạnh tranh đã dẫn đến việc cả chi phí đầu vào và giá đầu ra tiếp tục giảm, giá đầu ra giảm với tốc độ nhanh nhất trong 15 năm qua. Triển vọng kinh doanh tăng nhẹ trong tháng thứ hai liên tiếp. Tuy nhiên, bối cảnh bất ổn về chính trị và kinh tế có nghĩa là niềm tin vẫn ở mức thấp.
Theo Tradingeconomics.com, thặng dư thương mại của Đức giảm xuống còn 17 tỷ EUR vào tháng 9/2024 sau khi đạt mức 21,4 tỷ EUR tháng 8/2024. Xuất khẩu giảm 1,7% so với tháng trước xuống mức thấp nhất trong ba tháng là 128,2 tỷ EUR. Số lượng lô hàng đến EU giảm 1,8% và lô hàng đến các nước thứ ba giảm 1,6%, trong đó xuất khẩu sang Trung Quốc giảm 3,7% và Vương quốc Anh giảm 4,9%. Ngược lại, xuất khẩu tăng sang Nga (3,6%) và Hoa Kỳ (4,8%). Trong khi đó, nhập khẩu tăng 2,1% lên 111,3 tỷ EUR, sau khi giảm 2,6% trong tháng 8/2024. Nhập khẩu từ EU tăng 1,6% và mua hàng từ các nước ngoài EU tăng 2,6%, đặc biệt là từ Trung Quốc (5,6%) và Nga (20,1%) trong khi giảm sang Hoa Kỳ (-0,3%) và Vương quốc Anh (-0,6%). Trong chín tháng đầu năm 2024, quốc gia này ghi nhận thặng dư 186,9 tỷ EUR.[2]
Thương mại Việt Nam- Đức
Trong những năm gần đây, tình hình thương mại giữa Việt Nam và Đức đã có nhiều bước phát triển tích cực. Năm 2020, tổng kim ngạch thương mại song phương đạt 9,99 tỷ USD, đánh dấu khởi đầu cho một giai đoạn tăng trưởng tích cực. Năm 2021, mặc dù đại dịch Covid-19 vẫn còn ảnh hưởng lớn đến kinh tế toàn cầu, kim ngạch thương mại đã tăng lên 11,24 tỷ USD, cho thấy sức mạnh phục hồi của cả hai nền kinh tế và nỗ lực trong việc duy trì các mối quan hệ thương mại.
Sang năm 2022, kim ngạch thương mại tiếp tục tăng lên 12,58 tỷ USD. Tuy nhiên, năm 2023 ghi nhận sự giảm sút với tổng kim ngạch đạt 11,09 tỷ USD, giảm 11,86% so với năm trước. Nguyên nhân của sự sụt giảm này có thể liên quan đến những thách thức kinh tế toàn cầu, như lạm phát gia tăng, chuỗi cung ứng bị gián đoạn và nhu cầu tiêu thụ giảm.
Sang năm 2022, kim ngạch thương mại tiếp tục tăng lên 12,58 tỷ USD. Tuy nhiên, năm 2023 ghi nhận sự giảm sút với tổng kim ngạch đạt 11,09 tỷ USD, giảm 11,86% so với năm trước. Nguyên nhân của sự sụt giảm này có thể liên quan đến những thách thức kinh tế toàn cầu, như lạm phát gia tăng, chuỗi cung ứng bị gián đoạn và nhu cầu tiêu thụ giảm.
Tổng kim ngạch thương mại trung bình giai đoạn 2020-2023 đạt 11,23 tỷ USD, cho thấy mối quan hệ thương mại giữa Việt Nam và Đức vẫn giữ được sự ổn định tương đối trong bối cảnh biến động. Sự phát triển này không chỉ dựa trên các sản phẩm truyền thống mà còn mở ra cơ hội cho các lĩnh vực mới, như công nghệ xanh và chuyển đổi số, trong bối cảnh Việt Nam đang hướng tới một nền kinh tế bền vững và đổi mới sáng tạo. Nhìn chung, thương mại giữa Việt Nam và Đức trong giai đoạn này tăng trưởng tương đối ổn định, cho thấy những tiềm năng để phát triển thương mại song phương trong thời gian tới.
Tổng kim ngạch thương mại song phương giữa Việt Nam- Đức giai đoạn 2020-2023
Đơn vị: Tỷ USD

Tổng kim ngạch thương mại song phương giữa Việt Nam- Đức giai đoạn 2020-2023
Đơn vị: Tỷ USD

Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam
Theo tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong năm nay, xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Đức tăng mạnh. Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Đức trong 11 tháng đầu năm nay đạt 7,2 tỷ USD, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm ngoái.
Tên nhóm/mặt hàng
|
T11/2024
|
11T/2024
|
|||
Trị giá
(USD)
|
So với T10/2024 (%)
|
So với T11/2023
(%)
|
Trị giá
(USD)
|
So với 11T/2023 (%)
|
|
TỔNG TRỊ GIÁ
|
663.959.950
|
-6,16
|
1,9
|
7.203.978.539
|
5,5
|
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác
|
115.177.599
|
-12,36
|
22,79
|
1.188.737.894
|
7,52
|
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
|
100.925.086
|
-0,09
|
59,79
|
947.375.734
|
45,15
|
Điện thoại các loại và linh kiện
|
44.370.636
|
-42,42
|
-34,83
|
823.718.955
|
-6,04
|
Hàng dệt, may
|
79.670.321
|
11,61
|
5,52
|
714.006.576
|
-7,53
|
Giày dép các loại
|
78.299.264
|
3,51
|
-28,81
|
680.544.150
|
-22,54
|
Cà phê
|
29.549.797
|
28,49
|
-39,13
|
535.595.692
|
39,39
|
Hàng hóa khác
|
54.494.138
|
9,28
|
9,44
|
524.312.194
|
5,76
|
Phương tiện vận tải và phụ tùng
|
19.068.341
|
33,96
|
42,27
|
184.965.629
|
8,18
|
Hàng thủy sản
|
16.147.274
|
-22,47
|
16,49
|
183.164.611
|
7,72
|
Túi xách, ví,vali, mũ và ô dù
|
16.530.739
|
-25,78
|
-9,85
|
177.135.176
|
-0,96
|
Sản phẩm từ chất dẻo
|
14.558.838
|
-13,9
|
22,09
|
162.640.286
|
30,42
|
Hạt điều
|
14.121.051
|
-13,78
|
60,49
|
137.142.693
|
27,15
|
Sản phẩm từ sắt thép
|
12.317.537
|
20,62
|
-18,36
|
130.387.766
|
-20,96
|
Đồ chơi, dụng cụ thể thao và bộ phận
|
7.862.977
|
-13,43
|
30,1
|
114.284.291
|
-31,64
|
Máy ảnh, máy quay phim và linh kiện
|
11.013.249
|
37,96
|
143,47
|
110.427.504
|
1,17
|
Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày
|
8.738.313
|
-8,25
|
39,7
|
88.177.478
|
11,51
|
Hạt tiêu
|
5.726.334
|
-44,36
|
84,09
|
85.382.895
|
138,4
|
Gỗ và sản phẩm gỗ
|
11.078.012
|
24,87
|
43,49
|
79.884.280
|
31,33
|
Kim loại thường khác và sản phẩm
|
3.686.009
|
-12,82
|
-67,69
|
76.499.867
|
-22,98
|
Cao su
|
1.179.865
|
-77,99
|
-72,97
|
56.138.826
|
70,56
|
Hàng rau quả
|
3.787.192
|
-17,38
|
-5,09
|
52.154.951
|
63,76
|
Bánh kẹo và các sản phẩm từ ngũ cốc
|
4.562.812
|
-25,14
|
35,02
|
48.419.455
|
21,3
|
Sản phẩm mây, tre, cói và thảm
|
4.508.022
|
12,04
|
5,3
|
34.288.220
|
13,31
|
Sản phẩm từ cao su
|
2.312.214
|
26,86
|
-17,54
|
28.984.128
|
41,43
|
Sản phẩm gốm, sứ
|
2.107.092
|
-20,68
|
60,29
|
13.748.711
|
17
|
Sản phẩm hóa chất
|
973.877
|
-38,93
|
949,01
|
10.313.079
|
64,54
|
Đá quý, kim loại quý và sản phẩm
|
472.145
|
-6,19
|
-64,72
|
6.363.818
|
-19,86
|
Sắt thép các loại
|
240.160
|
56,42
|
-42,35
|
5.468.838
|
-30,47
|
Giấy và các sản phẩm từ giấy
|
327.473
|
-7,87
|
214,74
|
2.676.085
|
-17,2
|
Chè
|
153.584
|
-21,86
|
-7,78
|
1.038.760
|
-12,96
|
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam
Theo tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong năm nay, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ Pháp cũng tăng nhẹ. Cụ thể, nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam từ Đức trong 11 tháng đầu năm nay đạt 3,4 tỷ USD, tăng 1,52% so với cùng kỳ năm ngoái.
Kim ngạch nhập khẩu hàng hóa Đức vào Việt Nam trong tháng 11 và 11 tháng đầu năm 2024
Tên nhóm/mặt hàng
|
T11/2024
|
11T/2024
|
|||
Trị giá
(USD)
|
So với T10/2024 (%)
|
So với T11/2023
(%)
|
Trị giá
(USD)
|
So với 11T/2023 (%)
|
|
TỔNG TRỊ GIÁ
|
288.498.882
|
-13,83
|
-8,53
|
3.420.832.007
|
1,52
|
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác
|
111.178.467
|
-17,68
|
5,94
|
1.218.084.453
|
3,09
|
Hàng hóa khác
|
32.950.259
|
-5,45
|
8,36
|
368.542.138
|
17,18
|
Dược phẩm
|
27.664.783
|
-41,05
|
-15,15
|
360.507.275
|
21,38
|
Hóa chất
|
20.510.543
|
164,51
|
-61,24
|
357.270.054
|
-12,77
|
Sản phẩm hóa chất
|
20.625.840
|
-24,53
|
-4,32
|
259.596.240
|
20,63
|
Máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện
|
11.997.873
|
-0,11
|
17,29
|
141.415.917
|
-12,42
|
Sản phẩm từ chất dẻo
|
8.726.157
|
10,1
|
46,61
|
84.098.792
|
5,39
|
Chất dẻo nguyên liệu
|
6.251.316
|
-13,36
|
23,27
|
69.471.732
|
11,06
|
Sản phẩm từ sắt thép
|
4.909.441
|
-25,04
|
-5,15
|
60.405.350
|
0,91
|
Sữa và sản phẩm sữa
|
5.480.607
|
-3,32
|
50,24
|
46.380.390
|
14,52
|
Gỗ và sản phẩm gỗ
|
2.926.579
|
-14,68
|
-1,57
|
45.579.938
|
9,13
|
Thuốc trừ sâu và nguyên liệu
|
2.327.713
|
-10,9
|
24,35
|
43.545.359
|
-0,4
|
Phương tiện vận tải khác và phụ tùng
|
2.938.739
|
24,87
|
56,53
|
43.239.692
|
70,04
|
Linh kiện, phụ tùng ô tô
|
2.490.327
|
-30,93
|
-67,77
|
42.881.924
|
-61,37
|
Nguyên phụ liệu dệt, may, da, giày
|
1.084.554
|
-48,11
|
-69,59
|
27.151.348
|
-8,68
|
Thức ăn gia súc và nguyên liệu
|
1.488.420
|
-42,44
|
137,04
|
27.140.675
|
121,23
|
Vải các loại
|
1.399.474
|
-23,27
|
-63,97
|
25.021.905
|
-11,74
|
Chất thơm, mỹ phẩm và chế phẩm vệ sinh
|
4.015.617
|
53,47
|
181,25
|
22.092.156
|
31,03
|
Sản phẩm từ cao su
|
2.583.520
|
25,32
|
16,07
|
20.905.998
|
-9,05
|
Nguồn: Tính toán từ số liệu của Tổng cục Hải quan Việt Nam
Một số chính sách nổi bật
Chính phủ Đức đã có những phản ứng chính sách mạnh mẽ để giảm thiểu tình trạng giá năng lượng tăng cao sau khi Nga ngừng cung cấp khí đốt và một phần tác động làm gia tăng lạm phát của nước này trong giai đoạn 2022-2023, từ đó gây áp lực lên tiêu dùng tư nhân và hoạt động kinh tế. Đặc biệt, các cơ quan chức năng của Đức vừa hỗ trợ giảm bớt tác động của việc giá năng lượng tăng cao vừa duy trì chính sách khuyến khích các doanh nghiệp và hộ gia đình tiết kiệm năng lượng. Những nỗ lực này của chính phủ cùng với các chính sách đảm bảo khả năng tiếp cận nguồn cung cấp năng lượng mới, đã giúp đưa giá khí đốt bán buôn trở lại mức bình thường. Tác động của việc giá năng lượng giảm bớt, cùng với việc thắt chặt tiền tệ, đã thúc đẩy tình trạng giảm phát nhanh chóng. Một số tác động tích cực cơ bản có thể kể đến là tăng trưởng tiền lương mạnh mẽ sẽ thúc đẩy sự phục hồi trong tiêu dùng tư nhân.
T.Hường
Nguồn: Vitic
Tình hình xuất khẩu dệt may của Việt Nam sang EU 10 tháng đầu năm 2024
Tình hình nhập khẩu cà phê của EU trong năm 2024
Tình hình kinh tế Pháp và thương mại với Việt Nam trong năm 2024
Tình hình kinh tế Ý và thương mại với Việt Nam năm 2024
Tình hình nhập khẩu hàng hóa EU vào Việt Nam 10 tháng đầu năm 2024
Xuất khẩu hàng hóa Việt Nam sang EU-27 nước EVFTA tăng mạnh trong 10 tháng đầu 2024
Tình hình xuất khẩu và xuất siêu nông lâm thủy sản của Việt Nam 11 tháng năm 2024
Xuất khẩu thủy sản 11 tháng đầu năm và dự báo năm 2025
Tình hình xuất khẩu và nhập khẩu của Việt Nam tháng 11 và 11 tháng năm 2024
Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang các thị trường chủ đạo tại Châu Á 11 tháng năm 2024
Nhập khẩu nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi 11 tháng năm 2024
Tình hình xuất khẩu và nhập khẩu phân bón của Việt Nam 11 tháng năm 2024
Tình hình xuất khẩu và thặng dư thương mại nông lâm thủy sản 11 tháng năm 2024
Tình hình xuất nhập khẩu hàng hóa của Việt Nam tháng 11 và 11 tháng năm 2024