Nhập khẩu ngô, đậu tương và lúa mì của Việt Nam tăng trong 9 tháng năm 2026
Thứ năm, 29-10-2026
AsemconnectVietnam - Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, trong 9 tháng năm 2026, nhập khẩu ngô đạt hơn 10,4 triệu tấn, đậu tương đạt 2,8 triệu tấn, lúa mì đạt 5,71 triệu tấn.
Nhập khẩu ngô
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu ngô trong tháng 9/2026 đạt hơn 1,07 triệu tấn, tương đương gần 279,3 triệu USD, giá trung bình 260,7 USD/tấn, giảm 3,78% về lượng, giảm 3,89% về kim ngạch và giảm 0,11% về giá so với tháng 8/2026. So với tháng 9/2025 giảm 25,86 % về lượng, giảm 17,29% kim ngạch và tăng 11,56% về giá. Tính chung 9 tháng năm 2026, nhập khẩu ngô đạt hơn 10,4 triệu tấn, tương đương 2,66 tỷ USD, giá trung bình 254,4 USD/tấn, tăng 27,87% về lượng và tăng 29,02% kim ngạch và giá tăng 0,9% so với 9 tháng năm 2025.
Ngô nhập khẩu về Việt Nam nhiều nhất từ thị trường Achentina, trong tháng 9/2026 nhập khẩu đạt 621.182 tấn, tương đương 162,4 triệu USD, giá trung bình 261,6 USD/tấn, giảm 19,28% về lượng, giảm 18,67% kim ngạch và giá tăng 0,75% so với tháng 8/2026. Tính chung 9 tháng năm 2026, nhập khẩu của Việt Nam từ Achentina đạt 4,84 triệu tấn, tương đương 1,2 tỷ USD, giá trung bình 255,74 USD/tấn, tăng 7,85% về lượng và tăng 9,78% về kim ngạch và tăng 1,79% về giá so với 9 tháng năm 2025, chiếm 46,26% trong tổng lượng và chiếm 46,5% trong tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước.
Brazil là thị trường lớn thứ 2 cung cấp ngô cho Việt Nam, trong 9 tháng năm 2026, nhập khẩu đạt 2,87 triệu tấn, tương đương 714,2 triệu USD, giá trung bình 248,74 USD/tấn, tăng 37,48% về lượng, tăng 39,92% kim ngạch và giá tăng 1,78% so với 9 tháng năm 2025; chiếm 27,44% trong tổng lượng và chiếm 26,83% trong tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước.
Tiếp theo, nhập khẩu ngô từ thị trường Ấn Độ trong 9 tháng năm 2026 đạt 709.438 tấn, tương đương 178,8 triệu USD, giá trung bình 252,1 USD/tấn; chiếm 6,78% trong tổng lượng và chiếm 6,72% trong tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước.
Nhập khẩu đậu tương
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu đậu tương trong tháng 9/2026 đạt 241.719 tấn, tương đương 130,7 triệu USD, giá trung bình 541 USD/tấn, giảm 23,03% về lượng, giảm 18,117% về kim ngạch, nhưng giá tăng 6,39% so với tháng 8/2026; so với tháng 9/2025 tăng 72,04% về lượng, tăng 94,49% về kim ngạch và giá tăng 13,04%.
Tính chung 9 tháng năm 2026, nhập khẩu đậu tương đạt 2,8 triệu tấn, tương đương trên 1,38 tỷ USD, giá trung bình 491,16 USD/tấn, tăng 44,47% về lượng và tăng 53,03% kim ngạch và tăng 5,92% về giá so với 9 tháng năm 2025.
Đậu tương nhập khẩu về Việt Nam nhiều nhất từ thị trường Brazil, tháng 9/2026 nhập khẩu 171.420 tấn, tương đương 93,4 triệu USD, giá trung bình 545,4 USD/tấn, giảm 35,38% về lượng, giảm 30,73% kim ngạch và tăng 7,2% về giá so với tháng 8/2026.
Tính chung 9 tháng năm 2026, nhập khẩu đạt 1,75 triệu tấn, tương đương 868,1 triệu USD, giá trung bình 495,43 USD/tấn; chiếm 62,16% trong tổng lượng và chiếm 62,7% trong tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước.
Hoa Kỳ là thị trường lớn thứ 2 cung cấp đậu tương cho Việt Nam trong tháng 9/2026, đạt 63.321 tấn đậu tương, tương đương 33,2 triệu USD, giá trung bình 524,5 USD/tấn; chiếm 31,11% trong tổng lượng và chiếm 30,63% trong tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước.
Ngoài ra, Việt Nam còn nhập khẩu đậu tương từ thị trường Achentina, Canada và Campuchia.
Nhập khẩu lúa mì
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu lúa mì các loại trong tháng 9/2026 đạt 355.702 tấn, tương đương 103,8 triệu USD, giá trung bình 291,8 USD/tấn, tăng 39,53% về lượng và 35,44% về kim ngạch, giảm 2,93% về giá so với tháng 8/2026. So với tháng 9/2025, giảm 4,78% về lượng, tăng 5,12% về kim ngạch và tăng 10,4% về giá.
Tính chung 9 tháng năm 2026 đạt 5,71 triệu tấn, trị giá 1,51 tỷ USD, giá trung bình 264,18 USD/tấn, tăng 36,33% về lượng, tăng 34,75% kim ngạch và giảm 1,16% về giá so với 9 tháng năm 2025.
Lúa mì nhập khẩu về Việt Nam nhiều nhất từ thị trường Australia, tháng 9/2026 nhập khẩu 36.178 tấn, tương đương 11,1 triệu USD, giá trung bình 307 USD/tấn, giảm 22,97% về lượng, giảm 27,3% kim ngạch và giá giảm 5,62% so với tháng 8/2026. Tính chung 9 tháng năm 2026, nhập khẩu đạt 942.210 tấn, trị giá 269,1 triệu USD, giá trung bình 285,65 USD/tấn; chiếm 16,48% trong tổng lượng và chiếm 17,81% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước.
Canada là thị trường lớn thứ 2 cung cấp lúa mì cho Việt Nam trong 9 tháng năm 2026, nhập khẩu đạt 571.745 tấn, tương đương 164,3 triệu USD, giá trung bình 287,44 USD/tấn, tăng 45,24% về lượng, tăng 32,42% kim ngạch và giảm 3,67% về giá so với cùng kỳ năm 2025; chiếm 10% trong tổng lượng và chiếm 10,88% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước.
Ngoài ra, Việt Nam cũng nhập khẩu lúa mì từ thị trường Brazil, Hoa Kỳ, Nga và Ukraine.
Nguồn: VITIC/Tính toán theo số liệu của Cục Hải quan Việt Nam

