Doanh nghiệp có phải kê khai chủ sở hữu hưởng lợi khi thành lập mới không?
Chủ nhật, 25-10-2026
AsemconnectVietnam - Doanh nghiệp có phải kê khai chủ sở hữu hưởng lợi khi thành lập mới không? Doanh nghiệp không bổ sung thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi bị phạt bao nhiêu?
Doanh nghiệp có phải kê khai chủ sở hữu hưởng lợi khi thành lập mới không?
Theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2020 (sửa đổi, bổ sung 2025), hồ sơ đăng ký thành lập doanh nghiệp phải có danh sách chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp (nếu có). Nội dung này được quy định tại khoản 3 Điều 20, khoản 3 Điều 21 và khoản 3 Điều 22 Luật Doanh nghiệp, tương ứng với hồ sơ đăng ký công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần.
Đồng thời, khoản 10 Điều 23 Luật Doanh nghiệp quy định bổ sung thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp (nếu có) vào nội dung giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp.
Như vậy, khi thành lập doanh nghiệp, người thành lập cần xác định chủ sở hữu hưởng lợi theo tiêu chí pháp luật quy định và thực hiện kê khai thông tin tương ứng trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp. Trường hợp doanh nghiệp có chủ sở hữu hưởng lợi thì phải kê khai danh sách và thông tin theo quy định; không mặc nhiên coi mọi cá nhân góp vốn hoặc sở hữu cổ phần đều là chủ sở hữu hưởng lợi.
Tiêu chí xác định chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp là gì?
Theo Điều 17 Nghị định 168/2025/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 296/2026/NĐ-CP), chủ sở hữu hưởng lợi của một doanh nghiệp có tư cách pháp nhân là một hoặc nhiều cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp sở hữu hoặc kiểm soát cuối cùng trên thực tế đối với doanh nghiệp đó, không bao gồm cá nhân đại diện cho vốn nhà nước trong doanh nghiệp (sau đây gọi là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp). Chủ sở hữu hưởng lợi là một hoặc nhiều cá nhân được xác định như sau:
- Cá nhân trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp sở hữu từ 25% vốn điều lệ hoặc từ 25% tổng số cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của doanh nghiệp.
Chủ sở hữu gián tiếp là cá nhân sở hữu từ 25% trở lên vốn điều lệ hoặc từ 25% trở lên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của doanh nghiệp thông qua các tổ chức hoặc các thỏa thuận pháp lý khác.
Trường hợp nhóm cá nhân có mối quan hệ gia đình theo quy định tại khoản 22 Điều 4 Luật Doanh nghiệp hoặc hợp đồng cùng nhau sở hữu trực tiếp hoặc gián tiếp hoặc vừa trực tiếp và gián tiếp từ 25% trở lên vốn điều lệ hoặc từ 25% trở lên tổng số cổ phần có quyền biểu quyết của doanh nghiệp, doanh nghiệp xác định các cá nhân trong nhóm này là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp.
Đối với công ty hợp danh, tất cả thành viên hợp danh là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp không phụ thuộc vào tỷ lệ góp vốn điều lệ hay quyền biểu quyết của họ tại doanh nghiệp.
- Trường hợp cá nhân không đáp ứng tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều 17 Nghị định 168/2025/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 296/2026/NĐ-CP), hoặc có căn cứ cho thấy cá nhân được xác định theo tiêu chí quy định tại khoản 1 Điều 17 Nghị định 168/2025/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 296/2026/NĐ-CP) không phải là chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp, doanh nghiệp xác định chủ sở hữu hưởng lợi thông qua các phương thức khác theo pháp luật hoặc trên thực tế. Việc kiểm soát được thông qua một hoặc nhiều các quyền sau: Quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc bãi nhiệm đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng quản trị, đa số hoặc tất cả thành viên hoặc chủ tịch hội đồng thành viên, Giám đốc, Tổng giám đốc; sửa đổi, bổ sung điều lệ của doanh nghiệp; thay đổi cơ cấu tổ chức; quyết định chính sách tài chính, đầu tư và hoạt động của doanh nghiệp; tổ chức lại, giải thể doanh nghiệp.
- Trong trường hợp không có cá nhân đáp ứng tiêu chí tại khoản 1,2 Điều 17 Nghị định 168/2025/NĐ-CP (sửa đổi tại Nghị định 296/2026/NĐ-CP), doanh nghiệp xác định một cá nhân là người quản lý doanh nghiệp có quyền hạn lớn nhất để hành động thay mặt cho doanh nghiệp, trừ trường hợp cá nhân đại diện vốn nhà nước trong doanh nghiệp.
Doanh nghiệp không bổ sung thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi bị phạt bao nhiêu?
Theo khoản 6 Điều 44 Nghị định 122/2021/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 288/2026/NĐ-CP) phạt tiền từ 70.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng đối với hành vi không bổ sung thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp (nếu có), thông tin để xác định chủ sở hữu hưởng lợi của doanh nghiệp (nếu có) tại thời điểm doanh nghiệp thực hiện thủ tục đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp, thông báo thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp gần nhất đối với doanh nghiệp thành lập trước ngày 01/7/2025.
Ngoài ra, theo khoản 7 Điều 44 Nghị định 122/2021/NĐ-CP (được sửa đổi, bổ sung tại Nghị định 288/2026/NĐ-CP), buộc thông báo thay đổi thông tin chủ sở hữu hưởng lợi, thông tin để xác định chủ sở hữu hưởng lợi, bổ sung thông tin về chủ sở hữu hưởng lợi, thông tin để xác định chủ sở hữu hưởng lợi đối với hành vi vi phạm.
Lưu ý: Theo khoản 2 Điều 4 Nghị định 122/2021/NĐ-CP, mức phạt tiền nêu trên là mức phạt áp dụng đối với tổ chức. Đối với cùng một hành vi vi phạm hành chính thì mức phạt tiền đối với cá nhân bằng 1/2 mức phạt tiền đối với tổ chức. Nguồn: Thuvienphapluat.vn
11-19/11: Mời tham gia chương trình XTTM tại Iran và Thổ Nhĩ Kỳ
Chính sách miễn, giảm tiền thuê đất cho hợp tác xã nông nghiệp
Quy định mới về điều kiện bán lẻ rượu
Hàng tạm nhập tái xuất cung ứng cho tàu biển quốc tế không phải nộp thuế
Đồng bộ chế độ kế toán thuế xuất nhập khẩu để giảm thời gian thông quan
Kiểm tra định mức sản phẩm xuất khẩu bằng quản lý rủi ro
Giảm mạnh thuế tiêu thụ đặc biệt với xe ôtô từ năm 2016
4 ngân hàng sẽ mở rộng thu nộp thuế trên toàn quốc
Dự thảo Nghị định về cấp và quản lý bảo lãnh chính phủ
Kho ngoại quan chưa đáp ứng diện tích vẫn được hoạt động
Chú ý khai hải quan đối với hành lý gửi trước, gửi sau chuyến đi
Quy định mới nhất về thời gian thử việc
Bảo hiểm bắt buộc trong đầu tư xây dựng
Sử dụng chi phí trong lựa chọn nhà thầu dự án sử dụng vốn nhà nước

