Nhập khẩu ngô, đậu tương của Việt Nam giảm, nhập khẩu lúa mì tăng trong tháng 8/2026
Thứ tư, 30-9-2026
AsemconnectVietnam - Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, trong tháng 8/2026 nhập khẩu ngô giảm 24,9% về lượng, nhập khẩu đậu tương giảm 5,64% , ngược lại nhập khẩu lúa mì tăng 3,16% so với tháng 7/2026.
Nhập khẩu ngô
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu ngô trong tháng 8/2026 đạt hơn 1,11 triệu tấn, tương đương gần 290,75 triệu USD, giá trung bình 260,98 USD/tấn, giảm 24,9% về lượng, giảm 23% về kim ngạch và tăng 2,52% về giá so với tháng 7/2026. So với tháng 8/2025 giảm 11,9 % về lượng, giảm 6,79% kim ngạch và tăng 5,8% về giá. Tính chung 8 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu ngô đạt hơn 9,39 triệu tấn, tương đương 2,38 tỷ USD, giá trung bình 253,69 USD/tấn, tăng 39,46% về lượng và tăng 38,16% kim ngạch so với 8 tháng đầu năm 2025, nhưng giá giảm 0,94%.
Ngô nhập khẩu về Việt Nam nhiều nhất từ thị trường Achentina, trong tháng 8/2026 nhập khẩu đạt 769.536 tấn, tương đương 199,8 triệu USD, giá trung bình 259,64 USD/tấn, giảm 17,6% về lượng, giảm 15,33% kim ngạch và giá tăng 2,75% so với tháng 7/2026. Tính chung 8 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu của Việt Nam từ Achentina đạt 4,21 triệu tấn, tương đương 1,07 tỷ USD, giá trung bình 254,89 USD/tấn, tăng 13,65% về lượng và tăng 13,56% về kim ngạch, nhưng giảm 0,08% về giá so với 8 tháng đầu năm 2025, chiếm 44,9% trong tổng lượng và chiếm 45,11% trong tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước.
Brazil là thị trường lớn thứ 2 cung cấp ngô cho Việt Nam, trong 8 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu đạt 2,44 triệu tấn, tương đương 603,8 triệu USD, giá trung bình 247,2 USD/tấn, tăng 120,13% về lượng, tăng 117,72% kim ngạch và giá giảm 1,09% so với 8 tháng đầu năm 2025; chiếm 29,49% trong tổng lượng và chiếm 28,88% trong tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước.
Tiếp theo, nhập khẩu ngô từ thị trường Ấn Độ trong tháng 8/2026 đạt 4.945 tấn, tương đương 1,14 triệu USD, giá 231,42 USD/tấn, giảm 85,22% về lượng, giảm 86,46% về kim ngạch và giá giảm 8,34% so với tháng 7/2026.
Nhập khẩu đậu tương
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu đậu tương trong tháng 8/2026 đạt 314.043 tấn, tương đương gần 159,7 triệu USD, giá trung bình 508,5 USD/tấn, giảm 5,64% về lượng, giảm 3,27% về kim ngạch, nhưng giá tăng 2,51% so với tháng 7/2026; so với tháng 8/2025 tăng 5,55% về lượng, tăng 12,71% về kim ngạch và giá tăng 6,78%.
Tính chung 8 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu đậu tương đạt 2,57 triệu tấn, tương đương trên 1,25 tỷ USD, giá trung bình 486,44 USD/tấn, tăng 42,34% về lượng và tăng 49,7% kim ngạch và tăng 5,17% về giá so với 8 tháng đầu năm 2025.
Đậu tương nhập khẩu về Việt Nam nhiều nhất từ thị trường Brazil, tháng 8/2026 nhập khẩu 265.275 tấn, tương đương gần 135 triệu USD, giá trung bình 508,8 USD/tấn, giảm 6,02% về lượng, giảm 3,04% kim ngạch và tăng 3,16% về giá so với tháng 7/2026.
Tính chung 8 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu đạt 1,58 triệu tấn, tương đương 774,6 triệu USD, giá trung bình 489,94 USD/tấn; chiếm 61,34% trong tổng lượng và chiếm 61,787% trong tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước.
Hoa Kỳ là thị trường lớn thứ 2 cung cấp đậu tương cho Việt Nam trong tháng 8/2026. Tháng 8/2026 nhập khẩu 45.227 tấn đậu tương, tương đương 22,5 triệu USD, giá trung bình 498,9 USD/tấn; chiếm 31,57% trong tổng lượng và chiếm 31,17% trong tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước.
Ngoài ra, Việt Nam còn nhập khẩu đậu tương từ thị trường Achentina, Canada và Campuchia.
Nhập khẩu lúa mì
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu lúa mì các loại trong tháng 8/2026 đạt 254.934 tấn, tương đương 76,6 triệu USD, giá trung bình 300,63 USD/tấn, tăng 3,16% về lượng và 7,43% về kim ngạch, tăng 4,14% về giá so với tháng 7/2026. So với tháng 8/2025, giảm 54,04% về lượng, giảm 48,46% về kim ngạch và tăng 12,14% về giá.
Tính chung 8 tháng đầu năm 2026 đạt 5,36 triệu tấn, trị giá 1,407 tỷ USD, giá trung bình 262,36 USD/tấn, tăng 40,38% về lượng, tăng 37,64% kim ngạch và giảm 1,95% về giá so với 8 tháng năm 2025.
Lúa mì nhập khẩu về Việt Nam nhiều nhất từ thị trường Australia, tháng 8/2026 nhập khẩu 46.967 tấn, tương đương 15,27 triệu USD, giá trung bình 325,27 USD/tấn, giảm 55,47% về lượng, giảm 50,87% kim ngạch và giá tăng 10,32% so với tháng 7/2026. So với tháng 8/2025, giảm 79,52% về lượng, giảm 75,92% về kim ngạch và tăng 17,58% về giá. Tính chung 8 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu đạt 907.015 tấn, trị giá 258,3 triệu USD; chiếm 16,91% trong tổng lượng và chiếm 18,36% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước.
Canada là thị trường lớn thứ 2 cung cấp lúa mì cho Việt Nam trong 8 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu đạt 537.343 tấn, tương đương 153,8 triệu USD, giá trung bình 286,23 USD/tấn, tăng 37,47% về lượng, tăng 32,42% kim ngạch và giảm 3,67% về giá so với cùng kỳ năm 2025; chiếm 10,02% trong tổng lượng và chiếm 10,93% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước.
Ngoài ra, Việt Nam cũng nhập khẩu lúa mì từ thị trường Brazil, Hoa Kỳ, Nga và Ukraine.
Nguồn: VITIC/Tính toán theo số liệu của Cục Hải quan Việt Nam

