Xuất khẩu sắt thép 8 tháng 2026 duy trì đà tăng trưởng, mở rộng thị trường
Thứ năm, 24-9-2026
AsemconnectVietnam - Theo số liệu tính toán từ Cục Hải quan Việt Nam, trong 8 tháng đầu năm 2026, cả nước đã xuất khẩu 7,9 triệu tấn sắt thép các loại, đạt kim ngạch 5,43 tỷ USD, tăng 10,89% về lượng và 16,04% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá xuất khẩu bình quân đạt 686,91USD/tấn, tăng khoảng 4,64% so với mức bình quân cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy hoạt động xuất khẩu sắt thép tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, khi cả sản lượng và kim ngạch đều cải thiện, trong đó kim ngạch tăng nhanh hơn lượng xuất khẩu nhờ giá xuất khẩu bình quân được cải thiện.
Tính riêng tháng 8/2026, lượng sắt thép xuất khẩu của Việt Nam đạt hơn 1,2 triệu tấn, tăng 3,78% so với tháng 7/2026 và tăng mạnh 73,49% so với cùng kỳ năm 2025. Kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 879,5 triệu USD, tăng 3,47% so với tháng trước và tăng 97,98% so với tháng 7/2025. Giá xuất khẩu bình quân đạt 731,78 USD/tấn, giảm 0,3% so với tháng 7/2026 nhưng tăng 14,12% so với cùng kỳ năm trước.
Trong 8 tháng đầu năm 2026, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu sắt thép lớn nhất của Việt Nam về kim ngạch với 1,1 triệu tấn, đạt 700,3 triệu USD, tăng mạnh 68,84% về lượng và 67,85% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Hoa Kỳ chiếm 13,96% tổng lượng và 12,91% tổng kim ngạch xuất khẩu sắt thép của cả nước. Đà tăng trưởng này cho thấy nhu cầu nhập khẩu từ thị trường Hoa Kỳ tiếp tục duy trì tích cực và là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu thép của Việt Nam trong 8 tháng đầu năm.Đứng thứ hai là Campuchia với 1,01 triệu tấn, tương ứng 605,97 triệu USD, lượng xuất khẩu giảm nhẹ 0,85% nhưng kim ngạch vẫn tăng 3,69% so với cùng kỳ năm trước. Campuchia chiếm 12,83% tổng lượng và 11,17% tổng kim ngạch xuất khẩu sắt thép. Diễn biến này cho thấy xuất khẩu sang Campuchia tương đối ổn định về sản lượng, trong khi giá trị xuất khẩu vẫn được hỗ trợ bởi sự cải thiện của giá xuất khẩu bình quân. Với vị trí địa lý thuận lợi, chi phí logistics cạnh tranh và nhu cầu xây dựng tương đối ổn định, Campuchia tiếp tục là một trong những thị trường tiêu thụ thép quan trọng của Việt Nam.
Brazil tiếp tục nổi lên là thị trường có tốc độ tăng trưởng mạnh nhất trong nhóm các thị trường xuất khẩu lớn. Trong 8 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu sang Brazil 682.323 tấn, đạt 488,62 triệu USD, tăng tới 363,82% về lượng và 534,09% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Brazil chiếm 8,64% tổng lượng và 9% tổng kim ngạch xuất khẩu sắt thép của Việt Nam, đồng thời vươn lên vị trí thứ ba về kim ngạch. Mức tăng trưởng rất cao này cho thấy nhu cầu đối với thép Việt Nam tại thị trường Brazil đang được mở rộng đáng kể.
Ấn Độ đứng thứ tư về kim ngạch xuất khẩu với 437.166 tấn, đạt 466,33 triệu USD. Lượng xuất khẩu sang thị trường này giảm 33,87%, trong khi kim ngạch chỉ giảm khoảng 2% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến trái chiều giữa lượng và trị giá cho thấy giá xuất khẩu bình quân sang Ấn Độ đã tăng đáng kể, qua đó phần nào bù đắp sự sụt giảm về sản lượng. Đây là một trong những thị trường có sự thay đổi đáng chú ý về cơ cấu giá trị xuất khẩu trong 8 tháng đầu năm.
Trong nhóm các thị trường ASEAN, Indonesia tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực với 485.845 tấn, đạt 280,3 triệu USD, tăng 18,92% về lượng và 16,09% về trị giá. Malaysia đạt 495.125 tấn, tương ứng 324,73 triệu USD, tăng lần lượt 19,22% và 21,2%. Trong khi đó, xuất khẩu sang Thái Lan đạt 197.991 tấn, trị giá 164,1 triệu USD, giảm 7,81% về lượng nhưng kim ngạch gần như đi ngang, chỉ tăng 0,04%. Nhìn chung, nhu cầu tại các thị trường ASEAN có sự phân hóa, với Indonesia và Malaysia duy trì tăng trưởng trong khi Thái Lan có dấu hiệu chững lại.
Tại châu Âu, Bỉ tiếp tục là thị trường đáng chú ý với 475.564 tấn, đạt 292,6 triệu USD, tăng 41,58% về lượng và 19,64% về trị giá, chiếm 6,02% tổng lượng và 5,39% tổng kim ngạch xuất khẩu sắt thép của Việt Nam. Ba Lan ghi nhận mức tăng trưởng đột phá với 238.649 tấn, tương ứng 172 triệu USD, tăng 324,65% về lượng và 233,77% về trị giá. Thổ Nhĩ Kỳ cũng tăng mạnh, đạt 295.308 tấn, trị giá 166,78 triệu USD, tăng 374,57% về lượng và 231,01% về trị giá. Mức tăng cao tại Ba Lan và Thổ Nhĩ Kỳ cho thấy hoạt động xuất khẩu đang mở rộng sang các thị trường có dư địa tăng trưởng, góp phần đa dạng hóa thị trường tiêu thụ.
Ngược lại, một số thị trường truyền thống ghi nhận mức sụt giảm đáng kể. Italy đạt 481.996 tấn, trị giá 304,97 triệu USD, giảm 35,11% về lượng và 34,52% về trị giá; Tây Ban Nha đạt 154.931 tấn, trị giá 124,05 triệu USD, giảm lần lượt 39,09% và 34,05%. Đức đạt 13.341 tấn, tương ứng 8,91 triệu USD, giảm 79,16% về lượng và 71,39% về trị giá. Hàn Quốc đạt 161.320 tấn, trị giá 111,46 triệu USD, giảm 14,26% về lượng và 40,91% về trị giá. Australia đạt 236.085 tấn, trị giá 165,22 triệu USD, giảm 25,03% về lượng và 14,01% về trị giá, trong khi Anh đạt 113.675 tấn, tương ứng 83,87 triệu USD, giảm 14,31% về lượng và 9,09% về trị giá.
Ở nhóm thị trường quy mô nhỏ hơn, Nhật Bản tiếp tục tăng trưởng với 57.126 tấn, đạt 77,5 triệu USD, tăng 59,38% về lượng và 90,13% về trị giá. Nga đạt 18.474 tấn, trị giá 37,34 triệu USD, tăng 198,5% về lượng và 659,15% về trị giá. Tuy nhiên, mức tăng trưởng cao tại thị trường Nga cần được xem xét trong bối cảnh quy mô xuất khẩu còn nhỏ và nền so sánh thấp của cùng kỳ năm trước. Philippines cũng duy trì đà tăng với 62.759 tấn, đạt 33 triệu USD, tăng 14,36% về lượng và 20,33% về trị giá.
Ở chiều ngược lại, Singapore đạt 9.093 tấn, trị giá 10,55 triệu USD, giảm 81,81% về lượng và 62,45% về trị giá. Hồng Kông (Trung Quốc) chỉ đạt 385 tấn, trị giá 797.807 USD, giảm 96,33% về lượng và 83,62% về trị giá; Argentina đạt mức giảm 94,59% về lượng và 83,58% về trị giá.
Nhìn chung, xuất khẩu sắt thép của Việt Nam tiếp tục duy trì xu hướng tăng trưởng tích cực. Hoa Kỳ và Campuchia giữ vai trò là những thị trường chủ lực, trong khi Brazil nổi lên như một động lực tăng trưởng đáng chú ý. Một số thị trường khác như Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, Indonesia và Malaysia cũng ghi nhận tín hiệu khả quan. Tuy nhiên, xuất khẩu vẫn đối mặt với sự phục hồi chưa đồng đều của nhu cầu tại các thị trường truyền thống, cùng áp lực từ giá thép, chi phí nguyên liệu, logistics, tiêu chuẩn môi trường và các biện pháp phòng vệ thương mại. Những yếu tố này sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến triển vọng xuất khẩu trong thời gian tới.
Xuất khẩu sắt thép các loại 8 tháng đầu năm 2026
(Tính toán theo số liệu công bố ngày 12/9/2026 của CHQ)
|
Thị trường
|
8 Tháng/2026
|
Tăng giảm so với
8 tháng/2025 (%)
|
Tỷ trọng (%)
|
|||
|
Lượng (tấn)
|
Trị giá (USD)
|
Lượng
|
Trị giá
|
Lượng
|
Trị giá
|
|
|
Tổng KNXK
(USD)
|
7.899.663
|
5.426.327.546
|
10,89
|
16,04
|
100
|
100
|
|
Hoa Kỳ
|
1.102.721
|
700.302.546
|
68,84
|
67,85
|
13,96
|
12,91
|
|
Campuchia
|
1.013.368
|
605.968.534
|
-0,85
|
3,69
|
12,83
|
11,17
|
|
Brazil
|
682.323
|
488.623.066
|
363,82
|
534,09
|
8,64
|
9
|
|
Ấn Độ
|
437.166
|
466.330.775
|
-33,87
|
-2
|
5,53
|
8,59
|
|
Malaysia
|
495.125
|
324.730.833
|
19,22
|
21,2
|
6,27
|
5,98
|
|
Italy
|
481.996
|
304.965.538
|
-35,11
|
-34,52
|
6,1
|
5,62
|
|
Bỉ
|
475.564
|
292.601.381
|
41,58
|
19,64
|
6,02
|
5,39
|
|
Indonesia
|
485.845
|
280.299.316
|
18,92
|
16,09
|
6,15
|
5,17
|
|
Đài Loan (Trung Quốc)
|
310.068
|
237.988.568
|
-11,46
|
1,42
|
3,93
|
4,39
|
|
Ba Lan
|
238.649
|
172.002.626
|
324,65
|
233,77
|
3,02
|
3,17
|
|
Thổ Nhĩ Kỳ
|
295.308
|
166.780.276
|
374,57
|
231,01
|
3,74
|
3,07
|
|
Australia
|
236.085
|
165.223.440
|
-25,03
|
-14,01
|
2,99
|
3,04
|
|
Thái Lan
|
197.991
|
164.099.453
|
-7,81
|
0,04
|
2,51
|
3,02
|
|
Tây Ban Nha
|
154.931
|
124.048.137
|
-39,09
|
-34,05
|
1,96
|
2,29
|
|
Hàn Quốc
|
161.320
|
111.457.786
|
-14,26
|
-40,91
|
2,04
|
2,05
|
|
Anh
|
113.675
|
83.873.030
|
-14,31
|
-9,09
|
1,44
|
1,55
|
|
Nhật Bản
|
57.126
|
77.503.884
|
59,38
|
90,13
|
0,72
|
1,43
|
|
Nga
|
18.474
|
37.342.811
|
198,5
|
659,15
|
0,23
|
0,69
|
|
Philippines
|
62.759
|
33.000.658
|
14,36
|
20,33
|
0,79
|
0,61
|
|
Lào
|
35.462
|
27.514.507
|
-31,39
|
-27,48
|
0,45
|
0,51
|
|
Trung Quốc (Đại lục)
|
17.396
|
25.690.246
|
35,14
|
46,1
|
0,22
|
0,47
|
|
Các tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất
|
5.268
|
11.069.271
|
-10,3
|
77,39
|
0,07
|
0,2
|
|
Singapore
|
9.093
|
10.548.497
|
-81,81
|
-62,45
|
0,12
|
0,19
|
|
Đức
|
13.341
|
8.911.026
|
-79,16
|
-71,39
|
0,17
|
0,16
|
|
Myanmar
|
6.549
|
5.193.595
|
97,56
|
94,8
|
0,08
|
0,1
|
|
Ả Rập Xê Út
|
3.082
|
3.088.538
|
-53,47
|
-37,5
|
0,04
|
0,06
|
|
Ai Cập
|
769
|
1.347.947
|
1,249,12
|
2,062,94
|
0,01
|
0,02
|
|
Kuwait
|
1.496
|
1.101.905
|
37,37
|
33,27
|
0,02
|
0,02
|
|
Hồng Kông (Trung Quốc)
|
385
|
797.807
|
-96,33
|
-83,62
|
0
|
0,01
|
|
Achentina
|
242
|
417.749
|
-94,59
|
-83,58
|
0
|
0,01
|
|
Pakistan
|
352
|
322.115
|
1,660,00
|
941,33
|
0
|
0,01
|
|
Bangladesh
|
20
|
20.547
|
-98,29
|
-97,73
|
0
|
0
|
Nguồn: Cục Hải quan Việt Nam
N.Hao
Nguồn: VITIC
Nguồn: VITIC
8 tháng 2026 Việt Nam nhập khẩu hơn 10 triệu tấn sắt thép
Xuất khẩu rau quả Việt Nam tăng trưởng mạnh tại các thị trường chủ lực
Thị trường ô tô nguyên chiếc: Xe Trung Quốc mở rộng thị phần, nhập khẩu từ Ấn Độ tăng đột biến
Xuất nhập khẩu ngành giấy 9 tháng năm 2026: Động lực tăng trưởng từ xuất khẩu, nhập khẩu duy trì ổn định
Tận dụng hiệu quả EVFTA: Hàng hóa Việt Nam thâm nhập sâu vào thị trường Tây Ban Nha
Xuất khẩu chè Việt Nam: Sụt giảm về lượng, bứt phá nhờ đòn bẩy giá
Nhập khẩu hàng hóa từ Hàn Quốc 8 tháng năm 2026: Tăng trưởng bứt phá nhờ động lực linh kiện điện tử và năng lượng
Xuất khẩu hàng hóa sang Nga - Sự chuyển dịch dòng hàng và tín hiệu phục hồi rõ nét
Thị trường nhập khẩu gỗ của Việt Nam năm 2026: Động lực bứt phá và triển vọng những tháng cuối năm
Xuất khẩu da giày 8 tháng năm 2026 đạt 19,54 tỷ USD, đà tăng trưởng tiếp tục cải thiện
Bộ Công Thương ban hành quy định mới về quản lý ngoại thương
Xuất khẩu 8 tháng tăng mạnh, mở rộng dư địa tăng trưởng cuối năm
Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ rau quả lớn nhất của Việt Nam
Xuất khẩu điện tử sang Bắc Mỹ tăng trưởng nhờ làn sóng chuyển dịch chuỗi cung ứng và nhu cầu AI

