8 tháng 2026 Việt Nam nhập khẩu hơn 10 triệu tấn sắt thép
Thứ tư, 23-9-2026
AsemconnectVietnam - Theo số liệu tính toán từ Cục Hải quan Việt Nam, trong 8 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 10,37 triệu tấn sắt thép các loại, với tổng kim ngạch đạt 7,70 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2025, lượng nhập khẩu tăng 3,16%, trong khi kim ngạch tăng 7,52%. Giá nhập khẩu bình quân đạt 742,66 USD/tấn, tăng 4,22% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến này cho thấy nhu cầu nhập khẩu sắt thép tiếp tục được duy trì, trong khi mặt bằng giá thép nhập khẩu cũng tăng so với cùng kỳ.
Xét về cơ cấu thị trường, Trung Quốc tiếp tục là nguồn cung sắt thép lớn nhất của Việt Nam với 5,25 triệu tấn, trị giá đạt 3,61 tỷ USD, chiếm 50,57% tổng lượng và 46,81% tổng kim ngạch nhập khẩu. Tuy nhiên, so với 8 tháng năm 2025, lượng thép nhập khẩu từ Trung Quốc giảm 10,49%, trong khi kim ngạch giảm 2,66%. Việc lượng nhập khẩu từ Trung Quốc tiếp tục giảm trong khi tổng nhập khẩu của cả nước vẫn tăng cho thấy cơ cấu nguồn cung đang có sự dịch chuyển, đồng thời doanh nghiệp Việt Nam có xu hướng mở rộng tìm kiếm nguồn hàng từ các thị trường khác. Mức giảm về lượng lớn hơn mức giảm về trị giá cũng cho thấy giá nhập khẩu bình quân thép từ Trung Quốc đã tăng so với cùng kỳ.
Đứng thứ hai là Indonesia với 1,044 triệu tấn, trị giá 1,259 tỷ USD, chiếm 10,07% tổng lượng và 16,34% tổng kim ngạch nhập khẩu. So với cùng kỳ năm trước, lượng nhập khẩu tăng 27,88% và trị giá tăng 24,9%. Tỷ trọng về kim ngạch cao hơn đáng kể so với tỷ trọng về lượng cho thấy thép nhập khẩu từ Indonesia có giá trị bình quân tương đối cao. Cùng với tốc độ tăng trưởng tích cực cả về lượng và trị giá, Indonesia đang ngày càng giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu nguồn cung sắt thép của Việt Nam.
Nhật Bản đứng thứ ba với 1,258 triệu tấn, trị giá 883,8 triệu USD, chiếm 12,14% tổng lượng và 11,47% tổng kim ngạch nhập khẩu. Tuy nhiên, so với 8 tháng năm 2025, lượng nhập khẩu từ thị trường này giảm 18,19%, trong khi trị giá giảm 11,71%. Mặc dù vẫn giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu nguồn cung, lượng thép nhập khẩu từ Nhật Bản đang có xu hướng giảm, trong bối cảnh doanh nghiệp Việt Nam mở rộng tìm kiếm và đa dạng hóa nguồn cung từ các thị trường khác.
Hàn Quốc là thị trường cung cấp lớn thứ tư, với 941.021 tấn, trị giá 761,67 triệu USD, tương ứng 9,07% về lượng và 9,89% về trị giá. So với cùng kỳ năm trước, lượng nhập khẩu giảm 10,7%, trong khi trị giá giảm 9,64%.
Ấn Độ tiếp tục là thị trường ghi nhận mức tăng trưởng nhập khẩu sắt thép nổi bật trong 8 tháng đầu năm 2026. Việt Nam nhập khẩu 941.525 tấn sắt thép từ thị trường này, trị giá 508,36 triệu USD, tăng lần lượt 8.742,27% về lượng và 1.485,26% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Ấn Độ chiếm 9,08% tổng lượng và 6,6% tổng kim ngạch nhập khẩu, vươn lên trở thành một trong những thị trường cung cấp sắt thép lớn của Việt Nam. Mức tăng trưởng đột biến này chủ yếu do lượng nhập khẩu từ Ấn Độ trong cùng kỳ năm 2025 ở mức rất thấp. Tuy nhiên, với quy mô nhập khẩu đã đạt gần 1 triệu tấn, Ấn Độ đang ngày càng trở thành nguồn cung đáng chú ý. Việc nhập khẩu từ Ấn Độ tăng mạnh cũng cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đang mở rộng tìm kiếm nguồn cung, qua đó góp phần đa dạng hóa thị trường nhập khẩu.
Đối với Đài Loan (Trung Quốc), Việt Nam nhập khẩu 734.389 tấn, trị giá 473,43 triệu USD, tăng 29,39% về lượng và 22,9% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Thị trường này chiếm 7,08% tổng lượng và 6,15% tổng kim ngạch nhập khẩu. Đà tăng của Đài Loan cùng với sự gia tăng mạnh từ Ấn Độ và Indonesia cho thấy cơ cấu nguồn cung thép của Việt Nam đang có sự dịch chuyển đáng kể. Trong khi lượng nhập khẩu từ một số nguồn cung truyền thống như Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc giảm, doanh nghiệp Việt Nam đang gia tăng nhập khẩu từ một số thị trường khác.
Ngoài các thị trường chủ lực, một số quốc gia cũng ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao. Thái Lan tăng 64,03% về lượng và 105,31% về trị giá. Tại châu Âu, lượng nhập khẩu từ Bỉ tăng 1.184,40%, Pháp tăng 219,87%, Phần Lan tăng 231,64%, Hà Lan tăng 200,68% và Đan Mạch tăng tới 4.458,82%. Thụy Điển tăng 28,9% về lượng, trong khi Đức tăng 58,49%. Singapore cũng ghi nhận lượng nhập khẩu tăng 348,65%. Mức tăng mạnh từ các thị trường này có thể đến từ xu hướng doanh nghiệp Việt Nam mở rộng và đa dạng hóa nguồn cung, tìm kiếm thêm các nhà cung cấp ngoài những thị trường truyền thống. Bên cạnh đó, một số thị trường có thể đáp ứng nhu cầu đối với những chủng loại thép có yêu cầu riêng về chất lượng hoặc tính chất sản phẩm. Tuy nhiên, phần lớn các thị trường này có quy mô nhập khẩu còn nhỏ, nên mức tăng trưởng cao chủ yếu do nền so sánh thấp và chưa tạo ra thay đổi lớn trong cơ cấu nhập khẩu chung.
Ở chiều ngược lại, một số nguồn cung ghi nhận mức sụt giảm đáng kể. Nam Phi giảm 75,57% về lượng và 75,8% về trị giá; Australia giảm lần lượt 27,27% và 29,08%. Nhập khẩu từ Tây Ban Nha giảm 23,93% về trị giá, trong khi Anh giảm 12,46% về lượng và 29,25% về trị giá. Mexico giảm 77,03% về lượng và 81,05% về trị giá. Những diễn biến này cho thấy vai trò của một số nguồn cung ngoài khu vực châu Á tiếp tục ở mức hạn chế, trong khi doanh nghiệp Việt Nam vẫn tập trung chủ yếu vào các thị trường châu Á, nơi có lợi thế về khoảng cách địa lý, chi phí logistics và khả năng cung ứng.
8 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam tăng 3,16% về lượng và 7,52% về kim ngạch, cho thấy giá nhập khẩu bình quân tăng. Trung Quốc vẫn dẫn đầu nhưng giảm lượng, trong khi Indonesia, Ấn Độ và Đài Loan tăng tích cực. Nhật Bản và Hàn Quốc tiếp tục giảm. Đáng chú ý, Ấn Độ tăng trưởng mạnh, cho thấy xu hướng đa dạng hóa nguồn cung và giảm dần phụ thuộc vào các thị trường truyền thống.
Nhập khẩu sắt thép các loại 8 tháng đầu năm 2026
(Tính toán theo số liệu công bố ngày 12/9/2026 của CHQ)
|
Thị trường
|
8 Tháng/2026
|
Tăng giảm so với
8 tháng/2025 (%)
|
Tỷ trọng (%)
|
|||
|
Lượng (tấn)
|
Trị giá (USD)
|
Lượng
|
Trị giá
|
Lượng
|
Trị giá
|
|
|
Tổng KNNK
(USD)
|
10.372.415
|
7.703.150.902
|
3,16
|
7,52
|
100
|
100
|
|
Trung Quốc (Đại lục)
|
5.245.585
|
3.605.681.388
|
-10,49
|
-2,66
|
50,57
|
46,81
|
|
Indonesia
|
1.044.115
|
1.259.041.373
|
27,88
|
24,9
|
10,07
|
16,34
|
|
Nhật Bản
|
1.258.702
|
883.805.733
|
-18,19
|
-11,71
|
12,14
|
11,47
|
|
Hàn Quốc
|
941.021
|
761.668.119
|
-10,7
|
-9,64
|
9,07
|
9,89
|
|
Ấn Độ
|
941.525
|
508.364.399
|
8.742,27
|
1.485,26
|
9,08
|
6,6
|
|
Đài Loan (Trung Quốc)
|
734.389
|
473.431.322
|
29,39
|
22,9
|
7,08
|
6,15
|
|
Thái Lan
|
43.782
|
61.719.750
|
64,03
|
105,31
|
0,42
|
0,8
|
|
Malaysia
|
76.487
|
48.802.482
|
-7,15
|
-1,4
|
0,74
|
0,63
|
|
Đức
|
7.874
|
17.625.284
|
58,49
|
20,39
|
0,08
|
0,23
|
|
Thụy Điển
|
5.464
|
13.690.753
|
28,9
|
0,37
|
0,05
|
0,18
|
|
Australia
|
25.616
|
10.899.305
|
-27,27
|
-29,08
|
0,25
|
0,14
|
|
Pháp
|
2.511
|
10.094.691
|
219,87
|
-12,54
|
0,02
|
0,13
|
|
Hoa Kỳ
|
2.902
|
8.057.959
|
42,05
|
-16,4
|
0,03
|
0,1
|
|
Philippin
|
1.827
|
7.898.370
|
0,5
|
-18,76
|
0,02
|
0,1
|
|
Bỉ
|
14.488
|
7.531.333
|
1.184,40
|
611,63
|
0,14
|
0,1
|
|
Áo
|
444
|
3.709.467
|
89,74
|
315,75
|
0
|
0,05
|
|
Phần Lan
|
2.809
|
2.858.629
|
231,64
|
-6,99
|
0,03
|
0,04
|
|
Italia
|
974
|
2.293.758
|
46,91
|
33,86
|
0,01
|
0,03
|
|
Tây Ban Nha
|
1.992
|
2.256.816
|
7,73
|
-23,93
|
0,02
|
0,03
|
|
Nam Phi
|
4.364
|
1.992.425
|
-75,57
|
-75,8
|
0,04
|
0,03
|
|
Hà Lan
|
3.097
|
1.588.555
|
200,68
|
63,39
|
0,03
|
0,02
|
|
Thổ Nhĩ Kỳ
|
468
|
1.010.221
|
-13,01
|
28,69
|
0
|
0,01
|
|
Đan Mạch
|
1.550
|
790.961
|
4.458,82
|
778,58
|
0,01
|
0,01
|
|
Anh
|
1.068
|
651.407
|
-12,46
|
-29,25
|
0,01
|
0,01
|
|
Canada
|
910
|
605.024
|
89,19
|
-9,17
|
0,01
|
0,01
|
|
Ba Lan
|
197
|
420.603
|
-12,83
|
-26,44
|
0
|
0,01
|
|
Brazil
|
148
|
205.188
|
-25,63
|
25,11
|
0
|
0
|
|
Singapore
|
166
|
114.646
|
348,65
|
66,04
|
0
|
0
|
|
Mexico
|
96
|
72.281
|
-77,03
|
-81,05
|
0
|
0
|
|
Hồng Kông (Trung Quốc)
|
36
|
57.477
|
80
|
41,69
|
0
|
0
|
Nguồn: Cục Hải quanViệt Nam
N.Hao
Nguồn: VITIC Thị trường ô tô nguyên chiếc: Xe Trung Quốc mở rộng thị phần, nhập khẩu từ Ấn Độ tăng đột biến
Xuất nhập khẩu ngành giấy 9 tháng năm 2026: Động lực tăng trưởng từ xuất khẩu, nhập khẩu duy trì ổn định
Tận dụng hiệu quả EVFTA: Hàng hóa Việt Nam thâm nhập sâu vào thị trường Tây Ban Nha
Xuất khẩu chè Việt Nam: Sụt giảm về lượng, bứt phá nhờ đòn bẩy giá
Nhập khẩu hàng hóa từ Hàn Quốc 8 tháng năm 2026: Tăng trưởng bứt phá nhờ động lực linh kiện điện tử và năng lượng
Xuất khẩu hàng hóa sang Nga - Sự chuyển dịch dòng hàng và tín hiệu phục hồi rõ nét
Thị trường nhập khẩu gỗ của Việt Nam năm 2026: Động lực bứt phá và triển vọng những tháng cuối năm
Xuất khẩu da giày 8 tháng năm 2026 đạt 19,54 tỷ USD, đà tăng trưởng tiếp tục cải thiện
Bộ Công Thương ban hành quy định mới về quản lý ngoại thương
Xuất khẩu 8 tháng tăng mạnh, mở rộng dư địa tăng trưởng cuối năm
Trung Quốc tiếp tục là thị trường tiêu thụ rau quả lớn nhất của Việt Nam
Xuất khẩu điện tử sang Bắc Mỹ tăng trưởng nhờ làn sóng chuyển dịch chuỗi cung ứng và nhu cầu AI
Diễn biến thị trường xuất nhập khẩu thức ăn gia súc và nguyên liệu trong nước
Xuất khẩu máy tính và linh kiện đang có đà tăng trưởng tích cực và triển vọng những tháng cuối năm

