Thứ ba, 27-10-2026 - 10:36 GMT+7  Việt Nam EngLish 

Nhập khẩu ngô, lúa mì của Việt Nam giảm, nhập khẩu đậu tương tăng trong tháng 7/2026 

 Thứ năm, 27-8-2026

AsemconnectVietnam - Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, trong tháng 7/2026, nhập khẩu ngô giảm 2,2% về lượng, lúa mì giảm 51,3%, ngược lại nhập khẩu đậu tương tăng 40,7% về lượng so với tháng 6/2026.

Nhập khẩu ngô
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu ngô trong tháng 7/2026 đạt hơn 1,48 triệu tấn, tương đương 377,5 triệu USD, giá trung bình 254,57 USD/tấn, giảm 2,2% về lượng, giảm 3,8% về kim ngạch và giảm 1,65% về giá so với tháng 6/2026. So với tháng 7/2025 tăng 44,29 % về lượng, tăng 44,79% kim ngạch và tăng 0,35% về giá. Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu ngô đạt hơn 8,28 triệu tấn, tương đương 2,09 tỷ USD, giá trung bình 252,4 USD/tấn, tăng 51,3% về lượng và tăng 47,9% kim ngạch so với 7 tháng đầu năm 2025, nhưng giá giảm 2,26%.
Ngô nhập khẩu về Việt Nam nhiều nhất từ thị trường Achentina, trong tháng 7/2026 nhập khẩu đạt 933.881 tấn, tương đương gần 236 triệu USD, giá trung bình 252,68 USD/tấn, tăng 5,85% về lượng, tăng 3,52% kim ngạch và giá giảm 2,2% so với tháng 6/2026. Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu của Việt Nam từ Achentina đạt 3,449 triệu tấn, tương đương 875,6 triệu USD, giá trung bình 253,85 USD/tấn, tăng 18,48% về lượng và tăng 16,71% về kim ngạch, nhưng giảm 1,49% về giá so với 7 tháng đầu năm 2025, chiếm 41,65% trong tổng lượng và chiếm 41,88% trong tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước.
Brazil là thị trường lớn thứ 2 cung cấp ngô cho Việt Nam, trong tháng 7/2026 nhập khẩu đạt 23.520 tấn, tương đương 6,43 triệu USD, giá trung bình 273,48 USD/tấn, giảm 69,87% về lượng, giảm 67,35% kim ngạch và tăng 8,36% về giá so với tháng 6/2026. Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu đạt 2,44 triệu tấn, tương đương 603,8 triệu USD, giá trung bình 247,2 USD/tấn, tăng 120,13% về lượng, tăng 117,72% kim ngạch và giá giảm 1,09% so với 7 tháng đầu năm 2025; chiếm 29,49% trong tổng lượng và chiếm 28,88% trong tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước.
Tiếp theo, nhập khẩu ngô từ thị trường Ấn Độ trong tháng 7/2026 đạt 33.464 tấn, tương đương 8,44 triệu USD, giá 252,47 USD/tấn, giảm 79,83% về lượng, giảm 79,82% về kim ngạch và giá không đổi so với tháng 6/2026.
Nhập khẩu đậu tương
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu đậu tương trong tháng 7/2026 đạt 332.799 tấn, tương đương gần 165,1 triệu USD, giá trung bình 496,08 USD/tấn, tăng 40,7% về lượng, tăng 38,5% về kim ngạch, nhưng giá giảm 1,55% so với tháng 6/2026; so với tháng 7/2025 tăng 13,89% về lượng, tăng 19,06% về kim ngạch và giá tăng 4,54%.
Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu đậu tương đạt 2,26 triệu tấn, tương đương 1,09 tỷ USD, giá trung bình 483,34 USD/tấn, tăng 49,6% về lượng và tăng 57,2% kim ngạch và tăng 5,11% về giá so với 7 tháng đầu năm 2025.
Đậu tương nhập khẩu về Việt Nam nhiều nhất từ thị trường Brazil, tháng 7/2026 nhập khẩu 282.256 tấn, tương đương 139,2 triệu USD, giá trung bình 493,17 USD/tấn, tăng 70,98% về lượng, tăng 68,21% kim ngạch và giảm 1,62% về giá so với tháng 6/2026.
Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu đạt 1,31 triệu tấn, tương đương 693,7 triệu USD, giá trung bình 486,07 USD/tấn; chiếm 58,14% trong tổng lượng và chiếm 58,47% trong tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước.
Hoa Kỳ là thị trường lớn thứ 2 cung cấp đậu tương cho Việt Nam trong tháng 72026. Tháng 7/2026 nhập khẩu 40.865 tấn đậu tương, tương đương 20,4 triệu USD, giá trung bình 499,23 USD/tấn; chiếm 33,95% trong tổng lượng và chiếm 33,66% trong tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước,
Ngoài ra, Việt Nam còn nhập khẩu đậu tương từ thị trường Achentina, Canada và Campuchia.
Nhập khẩu lúa mì
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu lúa mì các loại trong tháng 7/2026 đạt 247.132 tấn, tương đương 71,34 triệu USD, giá trung bình 288,68 USD/tấn, giảm 51,3% về lượng và 49,3% về kim ngạch, tăng 4,16% về giá so với tháng 6/2026. So với tháng 7/2025 thì tăng 13,28% về lượng, tăng 17,78% về kim ngạch và tăng 3,97% về giá.
Tính chung 7 tháng đầu năm 2026 đạt 5,1 triệu tấn, trị giá 1,33 tỷ USD, giá trung bình 260,46 USD/tấn, tăng 56,3% về lượng, tăng 52,2% kim ngạch và giảm 2,62% về giá so với 7 tháng năm 2025.
Lúa mì nhập khẩu về Việt Nam nhiều nhất từ thị trường Australia, tháng 7/2026 nhập khẩu 105.471 tấn, tương đương gần 31,1 triệu USD, giá trung bình 294,83 USD/tấn, giảm 35,39% về lượng, giảm 35,5% kim ngạch và giá giảm 0,16% so với tháng 6/2026. So với tháng 7/2025, tăng 38,91% về lượng, tăng 47,38% về kim ngạch và tăng 6,1% về giá. Tính chung 7 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu đạt 860.049 tấn, trị giá 243,07 triệu USD; chiếm 16,84% trong tổng lượng và chiếm 18,27% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước.
Canada là thị trường lớn thứ 2 cung cấp lúa mì cho Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu đạt 426.267 tấn, tương đương 120 triệu USD, giá trung bình 281,48 USD/tấn, tăng 28,27% về lượng, tăng 21,44% kim ngạch và giảm 5,32% về giá so với cùng kỳ năm 2025; chiếm 8,35% trong tổng lượng và chiếm 9,02% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước.
Ngoài ra, Việt Nam cũng nhập khẩu lúa mì từ thị trường Brazil, Hoa Kỳ, Nga và Ukraine.
Nguồn: VITIC/Tính toán theo số liệu của Cục Hải quan Việt Nam

 

  PRINT     BACK

© Bộ Công Thương- Trung tâm Thông tin Công Nghiệp và Thương mại (VITIC)

Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 115/GP-TTĐT, cấp ngày 5/6/2024

Người chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Quốc Lân, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại

Địa chỉ: Tòa nhà Bộ Công Thương, số 655 Phạm Văn Đồng, phường Nghĩa Đô, thành phố Hà Nội.

ĐT: (04)39341911; (04)38251312 và Fax: (04)38251312

Email: Asemconnectvietnam@gmail.com;

Ghi rõ nguồn "Asemconnectvietnam.gov.vn" khi đăng lại thông tin từ kênh thông tin này

Số lượt truy cập: 25744627651