7 tháng đầu năm, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam tăng cả lượng và kim ngạch
Thứ hai, 17-8-2026
AsemconnectVietnam - Theo số liệu tính toán từ Cục Hải quan Việt Nam, trong 7 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu 9,06 triệu tấn sắt thép các loại, với tổng kim ngạch đạt 6,68 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2025, lượng nhập khẩu tăng 4%, trong khi kim ngạch tăng 7,5%. Giá nhập khẩu bình quân đạt 737,96 USD/tấn, tăng 3,35% so với cùng kỳ năm trước. Diễn biến này cho thấy nhu cầu nhập khẩu sắt thép tiếp tục được duy trì trong bối cảnh hoạt động sản xuất, xây dựng và đầu tư trong nước có xu hướng cải thiện, đồng thời mặt bằng giá thép nhập khẩu cũng tăng so với cùng kỳ.
Tính riêng tháng 7/2026, Việt Nam nhập khẩu 1,366 triệu tấn sắt thép các loại, giảm 4% so với tháng 6/2026 nhưng tăng 18,97% so với cùng kỳ năm 2025. Kim ngạch nhập khẩu đạt 1,07 tỷ USD, tăng 2,8% so với tháng trước và tăng 26,08% so với cùng kỳ năm 2025. Trong khi đó, giá nhập khẩu bình quân đạt 784,67 USD/tấn, tăng 7,91% so với tháng 6/2026 và tăng 5,97% so với cùng kỳ năm 2025. Mặc dù lượng nhập khẩu trong tháng 7 giảm nhẹ so với tháng trước, kim ngạch vẫn tăng nhờ giá nhập khẩu bình quân tăng khá mạnh. So với cùng kỳ năm trước, cả lượng, kim ngạch và giá nhập khẩu bình quân đều tăng, phản ánh nhu cầu nhập khẩu sắt thép tiếp tục ở mức cao và mặt bằng giá thép nhập khẩu có xu hướng tăng trong tháng 7/2026.
Xét về cơ cấu thị trường, Trung Quốc tiếp tục là nguồn cung sắt thép lớn nhất của Việt Nam với 4,5 triệu tấn, trị giá đạt 3,09 tỷ USD, chiếm 49,75% tổng lượng và 46,27% tổng kim ngạch nhập khẩu. Tuy nhiên, so với 7 tháng năm 2025, lượng thép nhập khẩu từ Trung Quốc giảm 11,92%, trong khi kim ngạch giảm 4,79%. Việc lượng nhập khẩu từ Trung Quốc tiếp tục giảm trong khi tổng nhập khẩu của cả nước vẫn tăng cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đang có xu hướng giảm mức độ phụ thuộc vào nguồn cung truyền thống, đồng thời chuyển sang khai thác nhiều hơn các thị trường khác.
Đứng thứ hai là Indonesia với 858.925 tấn, trị giá 1,074 tỷ USD, chiếm 9,48% tổng lượng và 16,08% tổng kim ngạch nhập khẩu. So với cùng kỳ năm trước, lượng nhập khẩu tăng 15,83% và trị giá tăng 20,55%. Giá nhập khẩu bình quân đạt 1.251,19 USD/tấn, cao hơn đáng kể so với mức bình quân chung. Mức giá bình quân cao cho thấy cơ cấu mặt hàng sắt thép nhập khẩu từ Indonesia chủ yếu thuộc nhóm có giá trị cao. Cùng với tốc độ tăng trưởng tích cực cả về lượng và trị giá, Indonesia đang ngày càng giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu nguồn cung sắt thép của Việt Nam.
Nhật Bản đứng thứ ba với 1,1 triệu tấn, trị giá 768,88 triệu USD, chiếm 12,15% tổng lượng và 11,5% tổng kim ngạch nhập khẩu. Tuy nhiên, so với cùng kỳ năm 2025, lượng nhập khẩu từ thị trường này giảm 19,14%, trong khi trị giá giảm 12,63%. Giá nhập khẩu bình quân đạt 698,41 USD/tấn, tăng 8,05% so với cùng kỳ năm trước. Mặc dù vẫn giữ vị trí quan trọng trong cơ cấu nhập khẩu, thép Nhật Bản đang chịu sức ép cạnh tranh khi doanh nghiệp Việt Nam mở rộng tìm kiếm nguồn cung từ các thị trường khác với mức giá và điều kiện thương mại phù hợp hơn.
Hàn Quốc là thị trường cung cấp lớn thứ tư, với 864.945 tấn, trị giá 667,6 triệu USD, tương ứng 9,55% về lượng và 9,99% về trị giá. Lượng nhập khẩu tăng 3,67%, trong khi trị giá giảm nhẹ 2,27% so với cùng kỳ. Việc lượng nhập khẩu vẫn tăng trong khi kim ngạch giảm cho thấy thép Hàn Quốc đang có lợi thế hơn về giá, qua đó hỗ trợ khả năng cạnh tranh trên thị trường Việt Nam.
Ấn Độ là thị trường ghi nhận mức tăng trưởng nhập khẩu sắt thép nổi bật nhất trong 7 tháng đầu năm 2026. Việt Nam nhập khẩu 893.747 tấn sắt thép từ thị trường này, trị giá 479,1 triệu USD, tăng lần lượt 9.095,87% về lượng và 1.564,81% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Ấn Độ chiếm 9,87% tổng lượng và 7,17% tổng kim ngạch nhập khẩu, vươn lên trở thành một trong những thị trường cung cấp sắt thép lớn của Việt Nam. Mức tăng trưởng đột biến này chủ yếu do lượng nhập khẩu từ Ấn Độ trong cùng kỳ năm 2025 ở mức rất thấp. Việc nhập khẩu từ Ấn Độ tăng mạnh cũng cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đang mở rộng tìm kiếm nguồn cung, qua đó từng bước đa dạng hóa thị trường và giảm sự phụ thuộc vào các nguồn cung truyền thống.
Đối với Đài Loan (Trung Quốc), Việt Nam nhập khẩu 644.636 tấn, trị giá 411,54 triệu USD, tăng 33,35% về lượng và 25,64% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Thị trường này chiếm 7,12% tổng lượng và 6,16% tổng kim ngạch. Đà tăng khá mạnh của Đài Loan cùng với sự gia tăng từ Ấn Độ và Indonesia cho thấy cơ cấu nguồn cung thép của Việt Nam đang có sự dịch chuyển đáng kể trong năm 2026.
Ngoài các thị trường chủ lực, một số quốc gia cũng ghi nhận tốc độ tăng trưởng cao. Thái Lan tăng 53,86% về lượng và 100,18% về trị giá; Malaysia tăng lần lượt 47,54% và 42,5%. Tại châu Âu, lượng nhập khẩu từ Bỉ tăng 1.123,15%, Pháp tăng 303,95%, Phần Lan tăng 286,58%, Hà Lan tăng 217,41% và Đan Mạch tăng tới 4.557,58%. Singapore cũng tăng 876,47% về lượng. Mức tăng mạnh từ các thị trường này có thể đến từ xu hướng doanh nghiệp Việt Nam mở rộng và đa dạng hóa nguồn cung, tìm kiếm thêm các nhà cung cấp ngoài những thị trường truyền thống. Bên cạnh đó, một số thị trường có lợi thế về chủng loại, chất lượng hoặc đáp ứng được nhu cầu đối với các sản phẩm thép chuyên dụng cũng có thể góp phần thúc đẩy nhập khẩu. Tuy nhiên, phần lớn các thị trường này có quy mô nhập khẩu còn nhỏ, nên mức tăng trưởng cao chủ yếu do nền so sánh thấp và chưa tạo ra thay đổi lớn trong cơ cấu nhập khẩu chung.
Ở chiều ngược lại, một số nguồn cung ghi nhận mức sụt giảm đáng kể. Nam Phi giảm 82,51% về lượng và 82,87% về trị giá; Australia giảm lần lượt 31,47% và 34,03%; Mexico giảm 77,03% về lượng và 81,05% về trị giá. Nhập khẩu từ Tây Ban Nha giảm 30,21% về trị giá, trong khi Anh giảm 12,49% về lượng và 30,64% về trị giá. Những diễn biến này cho thấy vai trò của một số nguồn cung ngoài khu vực châu Á tiếp tục ở mức hạn chế, trong khi doanh nghiệp Việt Nam ưu tiên những thị trường có lợi thế hơn về khoảng cách địa lý, chi phí logistics và khả năng cung ứng.
Nhìn chung, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2026 tiếp tục duy trì xu hướng tăng, với lượng tăng 4% và kim ngạch tăng 7,5% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, kim ngạch tăng nhanh hơn lượng nhập khẩu, phản ánh giá nhập khẩu bình quân tăng khoảng 3,4%. Trung Quốc vẫn giữ vị trí dẫn đầu nhưng lượng nhập khẩu tiếp tục giảm, trong khi Indonesia, Ấn Độ, Hàn Quốc và Đài Loan tăng trưởng tích cực. Đặc biệt, Ấn Độ nổi lên như một nguồn cung mới có tốc độ mở rộng rất mạnh, góp phần thúc đẩy quá trình đa dạng hóa nguồn cung. Diễn biến trên cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đang linh hoạt hơn trong lựa chọn thị trường nhập khẩu, đồng thời cơ cấu nguồn cung sắt thép có xu hướng dịch chuyển theo hướng giảm dần sự phụ thuộc vào một số thị trường truyền thống.
|
Thị trường
|
7 Tháng/2026
|
Tăng giảm so với
7 tháng/2025 (%)
|
Tỷ trọng (%)
|
|||
|
Lượng (tấn)
|
Trị giá (USD)
|
Lượng
|
Trị giá
|
Lượng
|
Trị giá
|
|
|
Tổng KNXK
(USD)
|
9.058.148
|
6.684.564.399
|
4
|
7,5
|
100
|
100
|
|
Trung Quốc (Đại lục)
|
4.506.284
|
3.092.727.825
|
-11,92
|
-4,79
|
49,75
|
46,27
|
|
Indonesia
|
858.925
|
1.074.675.972
|
15,83
|
20,55
|
9,48
|
16,08
|
|
Nhật Bản
|
1.100.895
|
768.877.410
|
-19,14
|
-12,63
|
12,15
|
11,5
|
|
Hàn Quốc
|
864.945
|
667.603.339
|
3,67
|
-2,27
|
9,55
|
9,99
|
|
Ấn Độ
|
893.747
|
479.197.542
|
9,095,87
|
1,564,81
|
9,87
|
7,17
|
|
Đài Loan (Trung Quốc)
|
644.636
|
411.543.541
|
33,35
|
25,64
|
7,12
|
6,16
|
|
Thái Lan
|
36.709
|
52.546.219
|
53,86
|
100,18
|
0,41
|
0,79
|
|
Malaysia
|
75.486
|
47.295.308
|
47,54
|
42,5
|
0,83
|
0,71
|
|
Đức
|
6.979
|
15.925.714
|
53,25
|
18,65
|
0,08
|
0,24
|
|
Thụy Điển
|
5.088
|
12.498.533
|
48,95
|
9,08
|
0,06
|
0,19
|
|
Pháp
|
2.452
|
9.540.556
|
303,95
|
-8,32
|
0,03
|
0,14
|
|
Australia
|
21.669
|
9.138.183
|
-31,47
|
-34,03
|
0,24
|
0,14
|
|
Hoa Kỳ
|
2.460
|
7.113.461
|
39,77
|
-19,4
|
0,03
|
0,11
|
|
Philippines
|
1.777
|
6.989.855
|
51,88
|
-16,8
|
0,02
|
0,1
|
|
Bỉ
|
12.733
|
6.642.346
|
1,123,15
|
623,92
|
0,14
|
0,1
|
|
Áo
|
354
|
2.915.030
|
64,65
|
291,82
|
0
|
0,04
|
|
Phần Lan
|
2.621
|
2.761.407
|
286,58
|
5,56
|
0,03
|
0,04
|
|
Italy
|
958
|
2.223.890
|
91,22
|
63,27
|
0,01
|
0,03
|
|
Tây Ban Nha
|
1.790
|
1.939.326
|
4,99
|
-30,21
|
0,02
|
0,03
|
|
Hà Lan
|
3.063
|
1.564.759
|
217,41
|
76,95
|
0,03
|
0,02
|
|
Nam Phi
|
2.468
|
1.104.987
|
-82,51
|
-82,87
|
0,03
|
0,02
|
|
Thổ Nhĩ Kỳ
|
432
|
945.475
|
-9,24
|
35,77
|
0
|
0,01
|
|
Đan Mạch
|
1.537
|
780.027
|
4,557,58
|
773,91
|
0,02
|
0,01
|
|
Anh
|
1.065
|
634.521
|
-12,49
|
-30,64
|
0,01
|
0,01
|
|
Canada
|
910
|
605.024
|
111,63
|
7,68
|
0,01
|
0,01
|
|
Ba Lan
|
174
|
337.730
|
-18,31
|
-38,95
|
0
|
0,01
|
|
Brazil
|
144
|
192.050
|
-17,71
|
45,68
|
0
|
0
|
|
Singapore
|
166
|
114.645
|
876,47
|
83,74
|
0
|
0
|
|
Mexico
|
96
|
72.281
|
-77,03
|
-81,05
|
0
|
0
|
|
Hồng Kông (Trung Quốc)
|
36
|
57.460
|
80
|
41,81
|
0
|
0
|
Nguồn: VITIC/Theo số liệu tính toán từ Cục Hải quan Việt Nam
Giá gạo xuất khẩu giảm nhẹ
Xuất nhập khẩu tạo đà cho tăng trưởng những tháng cuối năm
7 tháng xuất khẩu sắt thép của Việt Nam đạt 4,55 tỷ USD
Kim ngạch xuất khẩu rau quả sẽ còn nhiều cơ hội tăng trưởng trong những tháng cuối năm
Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa và nhập siêu của Việt Nam tiếp tục tăng mạnh
Xuất nhập khẩu máy tính và sản phẩm điện tử: Động lực tăng trưởng của thương mại Việt Nam
Doanh nghiệp kiến nghị loạt giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo
Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Hàn Quốc đạt 15,86 tỷ USD
Thị trường nhập khẩu phân bón của Việt Nam sụt giảm mạnh ở hầu hết các nguồn cung chủ lực
Xuất khẩu số: ‘Đo’ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt
Xuất khẩu ngành giấy 7 tháng đầu năm 2026 - Doanh nghiệp FDI và thị trường Hoa Kỳ giữ thế chủ lực
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt gần 42,8 tỷ USD sau 7 tháng năm 2026
Xuất khẩu điện thoại và linh kiện duy trì đà tăng trưởng nhờ nhu cầu tiêu thụ điện tử phục hồi tại nhiều thị trường lớn
Ấn Độ chính thức mở cửa thị trường cho quả sầu riêng tươi của Việt Nam

