7 tháng xuất khẩu sắt thép của Việt Nam đạt 4,55 tỷ USD
Thứ sáu, 14-8-2026
AsemconnectVietnam - Theo số liệu tính toán từ Cục Hải quan Việt Nam, trong 7 tháng đầu năm 2026, cả nước đã xuất khẩu 6,7 triệu tấn sắt thép các loại, đạt kim ngạch 4,55 tỷ USD, tăng 4,2% về lượng và 7,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá xuất khẩu bình quân đạt 678,88 USD/tấn, tăng 3,16% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy hoạt động xuất khẩu sắt thép tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực, khi cả sản lượng và kim ngạch đều cải thiện, trong đó kim ngạch tăng nhanh hơn lượng xuất khẩu nhờ giá xuất khẩu bình quân được cải thiện.
Tính riêng tháng 7/2026, lượng sắt thép xuất khẩu của Việt Nam đạt hơn 1,1 triệu tấn, tăng 38,3% so với tháng 6/2026 và tăng 47,7% so với cùng kỳ năm 2025. Kim ngạch xuất khẩu đạt hơn 849,9 triệu USD, tăng 38,8% so với tháng trước và tăng 57,37% so với tháng 7/2025. Giá xuất khẩu bình quân đạt 733,96 USD/tấn, tăng nhẹ 0,33% so với tháng 6/2026 và tăng 6,54% so với cùng kỳ năm trước. Như vậy, trong tháng 7/2026, xuất khẩu sắt thép ghi nhận mức tăng trưởng tích cực cả về sản lượng và kim ngạch, trong khi giá xuất khẩu bình quân tiếp tục được cải thiện, góp phần thúc đẩy tổng kim ngạch xuất khẩu sắt thép của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu sắt thép lớn nhất của Việt Nam về kim ngạch với 913.719 tấn, đạt 581,08 triệu USD, tăng mạnh 47,56% về lượng và 49,04% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Hoa Kỳ chiếm 13,64% tổng lượng và 12,78% tổng kim ngạch xuất khẩu sắt thép của cả nước. Kết quả này cho thấy nhu cầu nhập khẩu từ thị trường Hoa Kỳ tiếp tục duy trì tích cực và là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu thép của Việt Nam.
Đứng thứ hai là Campuchia với 906.372 tấn, tương ứng 539,3 triệu USD, tăng 2,19% về lượng và 6,25% về trị giá. Campuchia chiếm 13,53% tổng lượng và 11,86% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đây tiếp tục là một trong những thị trường tiêu thụ thép quan trọng của Việt Nam nhờ vị trí địa lý thuận lợi, chi phí logistics cạnh tranh và nhu cầu xây dựng tương đối ổn định.
Ấn Độ đứng thứ ba về kim ngạch xuất khẩu với 413.942 tấn, đạt 420,67 triệu USD. Lượng xuất khẩu sang thị trường này giảm 26,06%, trong khi kim ngạch gần như đi ngang, chỉ tăng 0,08% so với cùng kỳ. Diễn biến trái chiều giữa lượng và trị giá cho thấy giá xuất khẩu bình quân sang Ấn Độ đã tăng đáng kể, qua đó phần nào bù đắp sự sụt giảm về sản lượng.
Trong nhóm các thị trường ASEAN, Indonesia tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực với 469.514 tấn, đạt 268,05 triệu USD, tăng 23,56% về lượng và 20,43% về trị giá. Malaysia đạt 422.968 tấn, tương ứng 274,83 triệu USD, tăng lần lượt 14,72% và 15,85%. Trong khi đó, xuất khẩu sang Thái Lan đạt 190.297 tấn, trị giá 154,23 triệu USD, giảm 5,45% về lượng nhưng kim ngạch vẫn tăng nhẹ 2,1%. Điều này cho thấy nhu cầu tại các thị trường ASEAN tiếp tục phân hóa, với Indonesia và Malaysia duy trì xu hướng tăng trưởng trong khi Thái Lan có dấu hiệu chững lại.
Tại khu vực châu Âu, Bỉ tiếp tục là thị trường đáng chú ý với 435.075 tấn, đạt 262,66 triệu USD, tăng 35,92% về lượng và 14,14% về trị giá. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Ba Lan tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng đột phá, đạt 231.281 tấn, tương ứng 164,28 triệu USD, tăng tới 338,86% về lượng và 246,81% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy nhu cầu đối với thép Việt Nam tại một số thị trường châu Âu đang có sự cải thiện đáng kể, đồng thời cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đang mở rộng thị trường tại các quốc gia có dư địa tăng trưởng.
Ngược lại, nhiều thị trường châu Âu truyền thống tiếp tục ghi nhận mức sụt giảm mạnh. Italy đạt 380.804 tấn, trị giá 229,66 triệu USD, giảm 41,85% về lượng và 44,35% về trị giá. Xuất khẩu sang Tây Ban Nha giảm tới 50,93% về lượng và 47,48% về trị giá, trong khi Đức chỉ đạt 3.180 tấn, tương ứng 3,15 triệu USD, giảm lần lượt 95,01% và 89,79%. Sự sụt giảm tại một số thị trường châu Âu cho thấy ngành thép vẫn chịu ảnh hưởng từ nhu cầu tiêu thụ chưa phục hồi đồng đều, cạnh tranh cao và các yêu cầu ngày càng khắt khe liên quan đến tiêu chuẩn môi trường, phòng vệ thương mại và nguồn gốc sản phẩm.
Ở nhóm các thị trường mới nổi, Brazil tiếp tục nổi lên là điểm sáng đáng chú ý nhất. Trong 7 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu sang Brazil 545.089 tấn, đạt 375,41 triệu USD, tăng tới 317,32% về lượng và 457,3% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Đây là một trong những thị trường có tốc độ tăng trưởng cao nhất và đã vươn lên vị trí thứ tư về kim ngạch xuất khẩu sắt thép của Việt Nam.
Thổ Nhĩ Kỳ cũng ghi nhận kết quả tích cực với 142.161 tấn, trị giá 86,07 triệu USD, tăng 128,94% về lượng và 71,64% về trị giá. Đặc biệt, Nga tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng rất cao, với lượng xuất khẩu đạt 15.361 tấn, trị giá 29,47 triệu USD, tăng tới 2.594,91% về lượng và 4.882,67% về trị giá. Philippines cũng duy trì đà tăng với 62.290 tấn, đạt 32,35 triệu USD, tăng lần lượt 25,3% về lượng và 30% về trị giá.
Bên cạnh các thị trường tăng trưởng tích cực, nhiều thị trường truyền thống tiếp tục ghi nhận sự sụt giảm. Australia giảm 25,85% về lượng và 15,8% về trị giá; Đài Loan (Trung Quốc) giảm 20,37% về lượng và 8,08% về trị giá; Hàn Quốc giảm 21,75% về lượng và tới 47,54% về trị giá. Xuất khẩu sang Anh giảm 34,17% về lượng và 32,25% về trị giá, trong khi Singapore giảm mạnh tới 82,23% về lượng và 61,55% về trị giá. Những diễn biến này phản ánh sự phân hóa rõ nét về nhu cầu tiêu thụ thép giữa các thị trường, đồng thời cho thấy thép Việt Nam đang phải cạnh tranh gay gắt hơn với nguồn cung từ các quốc gia sản xuất lớn.
Nhìn chung, trong 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sắt thép của Việt Nam duy trì được đà tăng trưởng tích cực khi lượng tăng 4,2% và kim ngạch tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Hoa Kỳ và Campuchia tiếp tục là hai thị trường xuất khẩu chủ lực, trong khi Brazil, Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Nga nổi lên là những thị trường có tốc độ tăng trưởng cao. Đáng chú ý, việc kim ngạch tăng nhanh hơn sản lượng cho thấy giá xuất khẩu bình quân được cải thiện, góp phần hỗ trợ tăng trưởng giá trị xuất khẩu.
Trong 7 tháng đầu năm 2026, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu sắt thép lớn nhất của Việt Nam về kim ngạch với 913.719 tấn, đạt 581,08 triệu USD, tăng mạnh 47,56% về lượng và 49,04% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Hoa Kỳ chiếm 13,64% tổng lượng và 12,78% tổng kim ngạch xuất khẩu sắt thép của cả nước. Kết quả này cho thấy nhu cầu nhập khẩu từ thị trường Hoa Kỳ tiếp tục duy trì tích cực và là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy tăng trưởng xuất khẩu thép của Việt Nam.
Đứng thứ hai là Campuchia với 906.372 tấn, tương ứng 539,3 triệu USD, tăng 2,19% về lượng và 6,25% về trị giá. Campuchia chiếm 13,53% tổng lượng và 11,86% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đây tiếp tục là một trong những thị trường tiêu thụ thép quan trọng của Việt Nam nhờ vị trí địa lý thuận lợi, chi phí logistics cạnh tranh và nhu cầu xây dựng tương đối ổn định.
Ấn Độ đứng thứ ba về kim ngạch xuất khẩu với 413.942 tấn, đạt 420,67 triệu USD. Lượng xuất khẩu sang thị trường này giảm 26,06%, trong khi kim ngạch gần như đi ngang, chỉ tăng 0,08% so với cùng kỳ. Diễn biến trái chiều giữa lượng và trị giá cho thấy giá xuất khẩu bình quân sang Ấn Độ đã tăng đáng kể, qua đó phần nào bù đắp sự sụt giảm về sản lượng.
Trong nhóm các thị trường ASEAN, Indonesia tiếp tục ghi nhận kết quả tích cực với 469.514 tấn, đạt 268,05 triệu USD, tăng 23,56% về lượng và 20,43% về trị giá. Malaysia đạt 422.968 tấn, tương ứng 274,83 triệu USD, tăng lần lượt 14,72% và 15,85%. Trong khi đó, xuất khẩu sang Thái Lan đạt 190.297 tấn, trị giá 154,23 triệu USD, giảm 5,45% về lượng nhưng kim ngạch vẫn tăng nhẹ 2,1%. Điều này cho thấy nhu cầu tại các thị trường ASEAN tiếp tục phân hóa, với Indonesia và Malaysia duy trì xu hướng tăng trưởng trong khi Thái Lan có dấu hiệu chững lại.
Tại khu vực châu Âu, Bỉ tiếp tục là thị trường đáng chú ý với 435.075 tấn, đạt 262,66 triệu USD, tăng 35,92% về lượng và 14,14% về trị giá. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Ba Lan tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng đột phá, đạt 231.281 tấn, tương ứng 164,28 triệu USD, tăng tới 338,86% về lượng và 246,81% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy nhu cầu đối với thép Việt Nam tại một số thị trường châu Âu đang có sự cải thiện đáng kể, đồng thời cho thấy doanh nghiệp Việt Nam đang mở rộng thị trường tại các quốc gia có dư địa tăng trưởng.
Ngược lại, nhiều thị trường châu Âu truyền thống tiếp tục ghi nhận mức sụt giảm mạnh. Italy đạt 380.804 tấn, trị giá 229,66 triệu USD, giảm 41,85% về lượng và 44,35% về trị giá. Xuất khẩu sang Tây Ban Nha giảm tới 50,93% về lượng và 47,48% về trị giá, trong khi Đức chỉ đạt 3.180 tấn, tương ứng 3,15 triệu USD, giảm lần lượt 95,01% và 89,79%. Sự sụt giảm tại một số thị trường châu Âu cho thấy ngành thép vẫn chịu ảnh hưởng từ nhu cầu tiêu thụ chưa phục hồi đồng đều, cạnh tranh cao và các yêu cầu ngày càng khắt khe liên quan đến tiêu chuẩn môi trường, phòng vệ thương mại và nguồn gốc sản phẩm.
Ở nhóm các thị trường mới nổi, Brazil tiếp tục nổi lên là điểm sáng đáng chú ý nhất. Trong 7 tháng đầu năm, Việt Nam xuất khẩu sang Brazil 545.089 tấn, đạt 375,41 triệu USD, tăng tới 317,32% về lượng và 457,3% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Đây là một trong những thị trường có tốc độ tăng trưởng cao nhất và đã vươn lên vị trí thứ tư về kim ngạch xuất khẩu sắt thép của Việt Nam.
Thổ Nhĩ Kỳ cũng ghi nhận kết quả tích cực với 142.161 tấn, trị giá 86,07 triệu USD, tăng 128,94% về lượng và 71,64% về trị giá. Đặc biệt, Nga tiếp tục ghi nhận mức tăng trưởng rất cao, với lượng xuất khẩu đạt 15.361 tấn, trị giá 29,47 triệu USD, tăng tới 2.594,91% về lượng và 4.882,67% về trị giá. Philippines cũng duy trì đà tăng với 62.290 tấn, đạt 32,35 triệu USD, tăng lần lượt 25,3% về lượng và 30% về trị giá.
Bên cạnh các thị trường tăng trưởng tích cực, nhiều thị trường truyền thống tiếp tục ghi nhận sự sụt giảm. Australia giảm 25,85% về lượng và 15,8% về trị giá; Đài Loan (Trung Quốc) giảm 20,37% về lượng và 8,08% về trị giá; Hàn Quốc giảm 21,75% về lượng và tới 47,54% về trị giá. Xuất khẩu sang Anh giảm 34,17% về lượng và 32,25% về trị giá, trong khi Singapore giảm mạnh tới 82,23% về lượng và 61,55% về trị giá. Những diễn biến này phản ánh sự phân hóa rõ nét về nhu cầu tiêu thụ thép giữa các thị trường, đồng thời cho thấy thép Việt Nam đang phải cạnh tranh gay gắt hơn với nguồn cung từ các quốc gia sản xuất lớn.
Nhìn chung, trong 7 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sắt thép của Việt Nam duy trì được đà tăng trưởng tích cực khi lượng tăng 4,2% và kim ngạch tăng 7,4% so với cùng kỳ năm trước. Hoa Kỳ và Campuchia tiếp tục là hai thị trường xuất khẩu chủ lực, trong khi Brazil, Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Nga nổi lên là những thị trường có tốc độ tăng trưởng cao. Đáng chú ý, việc kim ngạch tăng nhanh hơn sản lượng cho thấy giá xuất khẩu bình quân được cải thiện, góp phần hỗ trợ tăng trưởng giá trị xuất khẩu.
Xuất khẩu sắt thép các loại 7 tháng đầu năm 2026
(Tính toán theo số liệu công bố ngày 12/8/2026 của CHQ)
|
Thị trường
|
7 Tháng/2026
|
Tăng giảm so với
7 tháng/2025 (%)
|
Tỷ trọng (%)
|
|||
|
Lượng (tấn)
|
Trị giá (USD)
|
Lượng
|
Trị giá
|
Lượng
|
Trị giá
|
|
|
Tổng KNXK
(USD)
|
6.698.477
|
4.547.476.910
|
4,2
|
7,4
|
100
|
100
|
|
Hoa Kỳ
|
913.719
|
581.075.607
|
47,56
|
49,04
|
13,64
|
12,78
|
|
Campuchia
|
906.372
|
539.335.816
|
2,19
|
6,25
|
13,53
|
11,86
|
|
Ấn Độ
|
413.942
|
420.676.382
|
-26,06
|
0,08
|
6,18
|
9,25
|
|
Brazil
|
545.089
|
375.412.627
|
317,32
|
457,3
|
8,14
|
8,26
|
|
Malaysia
|
422.968
|
274.829.794
|
14,72
|
15,85
|
6,31
|
6,04
|
|
Indonesia
|
469.514
|
268.049.616
|
23,56
|
20,43
|
7,01
|
5,89
|
|
Bỉ
|
435.075
|
262.659.103
|
35,92
|
14,14
|
6,5
|
5,78
|
|
Italy
|
380.804
|
229.663.670
|
-41,85
|
-44,35
|
5,68
|
5,05
|
|
Đài Loan (Trung Quốc)
|
261.775
|
198.867.692
|
-20,37
|
-8,08
|
3,91
|
4,37
|
|
Ba Lan
|
231.281
|
164.278.004
|
338,86
|
246,81
|
3,45
|
3,61
|
|
Thái Lan
|
190.297
|
154.225.427
|
-5,45
|
2,1
|
2,84
|
3,39
|
|
Australia
|
202.959
|
140.060.338
|
-25,85
|
-15,8
|
3,03
|
3,08
|
|
Tây Ban Nha
|
121.956
|
96.647.906
|
-50,93
|
-47,48
|
1,82
|
2,13
|
|
Hàn Quốc
|
139.679
|
94.580.283
|
-21,75
|
-47,54
|
2,09
|
2,08
|
|
Thổ Nhĩ Kỳ
|
142.161
|
86.073.523
|
128,94
|
71,64
|
2,12
|
1,89
|
|
Nhật Bản
|
48.274
|
64.314.751
|
55,91
|
80,62
|
0,72
|
1,41
|
|
Anh
|
87.064
|
62.131.566
|
-34,17
|
-32,25
|
1,3
|
1,37
|
|
Philippines
|
62.290
|
32.347.337
|
25,3
|
30
|
0,93
|
0,71
|
|
Nga
|
15.361
|
29.473.765
|
2,594,91
|
4,882,67
|
0,23
|
0,65
|
|
Lào
|
32.009
|
24.798.500
|
-30,81
|
-27,5
|
0,48
|
0,55
|
|
Trung Quốc (Đại lục)
|
15.162
|
22.242.645
|
32,07
|
42,03
|
0,23
|
0,49
|
|
Singapore
|
8.600
|
10.181.643
|
-82,23
|
-61,55
|
0,13
|
0,22
|
|
Các tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất
|
4.785
|
9.876.270
|
-16,96
|
61,36
|
0,07
|
0,22
|
|
Myanmar
|
6.539
|
5.173.795
|
100,46
|
96,92
|
0,1
|
0,11
|
|
Đức
|
3.180
|
3.151.302
|
-95,01
|
-89,79
|
0,05
|
0,07
|
|
Ả Rập Xê Út
|
2.716
|
2.061.411
|
-55,66
|
-54,63
|
0,04
|
0,05
|
|
Ai Cập
|
644
|
1.224.744
|
|
|
0,01
|
0,03
|
|
Kuwait
|
1.496
|
1.101.905
|
184,95
|
172,75
|
0,02
|
0,02
|
|
Hồng Kông (Trung Quốc)
|
278
|
645.245
|
-97,35
|
-86,72
|
0
|
0,01
|
|
Achentina
|
228
|
363.238
|
-94,86
|
-85,37
|
0
|
0,01
|
|
Pakistan
|
300
|
297.021
|
1,478,95
|
892,68
|
0
|
0,01
|
|
Bangladesh
|
20
|
20.547
|
-97,66
|
-96,87
|
0
|
0
|
Nguồn: Cục Hải quanViệt Nam
N.Hao
Nguồn: VITIC/Theo số liệu tính toán từ Cục Hải quan Việt Nam
Nguồn: VITIC/Theo số liệu tính toán từ Cục Hải quan Việt Nam
Kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa và nhập siêu của Việt Nam tiếp tục tăng mạnh
Xuất nhập khẩu máy tính và sản phẩm điện tử: Động lực tăng trưởng của thương mại Việt Nam
Doanh nghiệp kiến nghị loạt giải pháp thúc đẩy xuất khẩu gạo
Xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Hàn Quốc đạt 15,86 tỷ USD
Thị trường nhập khẩu phân bón của Việt Nam sụt giảm mạnh ở hầu hết các nguồn cung chủ lực
Xuất khẩu số: ‘Đo’ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Việt
Xuất khẩu ngành giấy 7 tháng đầu năm 2026 - Doanh nghiệp FDI và thị trường Hoa Kỳ giữ thế chủ lực
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt gần 42,8 tỷ USD sau 7 tháng năm 2026
Xuất khẩu điện thoại và linh kiện duy trì đà tăng trưởng nhờ nhu cầu tiêu thụ điện tử phục hồi tại nhiều thị trường lớn
Ấn Độ chính thức mở cửa thị trường cho quả sầu riêng tươi của Việt Nam
Nhập khẩu hàng hóa từ Đức: Máy móc, linh kiện điện tử làm động lực bứt phá
Điện tử và công nghệ cao tiếp tục giữ vai trò chủ lực trong cơ cấu xuất khẩu của khu vực FDI
Triển vọng tích cực của ngành điện tử Việt Nam tại thị trường Bắc Mỹ
Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam tăng trưởng hai con số trong nửa đầu năm 2026

