Thứ tư, 15-7-2026 - 18:3 GMT+7  Việt Nam EngLish 

Nửa đầu năm 2026: Xuất khẩu thép Việt Nam giữ đà tăng nhờ giá xuất khẩu phục hồi 

 Thứ tư, 15-7-2026

AsemconnectVietnam - Theo số liệu tính toán từ Cục Hải quan Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm 2026, cả nước đã xuất khẩu 5,5 triệu tấn sắt thép các loại, đạt kim ngạch 3,7 tỷ USD, giảm 1,79% về lượng nhưng tăng 0,27% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá xuất khẩu bình quân đạt khoảng 667,47 USD/tấn, tăng 2,09% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy mặc dù khối lượng xuất khẩu có xu hướng giảm nhẹ, song giá xuất khẩu bình quân được cải thiện đã góp phần duy trì tăng trưởng kim ngạch trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ thép trên thị trường thế giới vẫn phân hóa giữa các khu vực.

 Tính riêng tháng 6/2026, lượng sắt thép xuất khẩu của Việt Nam đạt 837.283 tấn, giảm 1,62% so với tháng 5/2026 và giảm 9,29% so với cùng kỳ năm 2025. Mặc dù sản lượng xuất khẩu tiếp tục giảm, kim ngạch vẫn đạt hơn 612,5 triệu USD, tăng nhẹ 0,07% so với tháng trước và tăng 1,15% so với cùng kỳ năm trước. Đáng chú ý, giá xuất khẩu bình quân đạt 731,54 USD/tấn, tăng 1,72% so với tháng 5/2026 và tăng 11,52% so với cùng kỳ năm 2025. Kết quả này cho thấy giá xuất khẩu thép tiếp tục xu hướng phục hồi, góp phần bù đắp sự sụt giảm về khối lượng xuất khẩu và hỗ trợ tăng trưởng kim ngạch trong bối cảnh nhu cầu trên thị trường thế giới vẫn chưa phục hồi đồng đều.
Trong 6 tháng đầu năm 2026, Campuchia là thị trường xuất khẩu sắt thép lớn nhất của Việt Nam với 781.729 tấn, tương ứng 459,8 triệu USD, tăng 2,28% về lượng và 5,04% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Thị trường này chiếm 14,09% tổng lượng và 12,42% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước.
Đứng thứ hai là Hoa Kỳ với 735.901 tấn, đạt 459,1 triệu USD, tăng mạnh 35,14% về lượng và 33,67% về trị giá. Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường mang lại giá trị xuất khẩu cao nhất, chiếm khoảng 12,40% tổng kim ngạch xuất khẩu sắt thép của Việt Nam, phản ánh nhu cầu nhập khẩu vẫn duy trì tích cực.
Ấn Độ đứng thứ ba với 397.045 tấn, trị giá 389,3 triệu USD. Mặc dù lượng xuất khẩu giảm 18,33%, kim ngạch vẫn tăng 11,71%, cho thấy giá xuất khẩu sang thị trường này đã cải thiện đáng kể so với cùng kỳ năm trước.
Trong nhóm các nước ASEAN, Indonesia đạt 452.055 tấn, tương ứng 255,3 triệu USD, tăng 32,04% về lượng và 29,01% về trị giá. Malaysia cũng ghi nhận kết quả tích cực với 396.112 tấn, đạt 250,03 triệu USD, tăng 25,67% về lượng và 22,83% về trị giá. Ngược lại, Thái Lan nhập khẩu 148.878 tấn, đạt 121,5 triệu USD, giảm 21,63% về lượng và 12,81% về trị giá, phản ánh nhu cầu tiêu thụ tại thị trường này vẫn còn yếu.
Tại khu vực châu Âu, Việt Nam tiếp tục đẩy mạnh xuất khẩu sắt thép sang Bỉ, với khối lượng đạt 378.277 tấn, trị giá 220,5 triệu USD, tăng 39,66% về lượng và 15,06% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, xuất khẩu sang Ba Lan ghi nhận mức tăng trưởng đột phá, đạt 218.599 tấn, tương ứng 150,72 triệu USD, tăng tới 360,72% về lượng và 258,13% về trị giá. Kết quả này cho thấy nhu cầu nhập khẩu thép từ Việt Nam tại một số thị trường châu Âu đang phục hồi tích cực, góp phần mở rộng thị phần của thép Việt Nam trong khu vực.
Ngược lại, nhiều thị trường châu Âu ghi nhận mức sụt giảm đáng kể. Italy chỉ đạt 299.968 tấn, tương ứng 180,12 triệu USD, giảm 46,92% về lượng và 49,78% về trị giá. Tây Ban Nha giảm 58,21% về lượng và 56,89% về trị giá. Đặc biệt, Đức chỉ còn nhập khẩu 2.744 tấn, đạt 2,7 triệu USD, giảm tới 95,67% về lượng và 91,07% về trị giá. Sự suy giảm tại các thị trường châu Âu chủ yếu xuất phát từ nhu cầu tiêu thụ thép vẫn ở mức thấp do ngành xây dựng và sản xuất công nghiệp phục hồi chậm. Đồng thời, các biện pháp phòng vệ thương mại, yêu cầu ngày càng khắt khe về tiêu chuẩn môi trường và xu hướng ưu tiên nguồn cung nội khối của Liên minh châu Âu (EU) tiếp tục làm giảm sức cạnh tranh của thép nhập khẩu từ các nước ngoài khu vực, trong đó có Việt Nam.
Trong 6 tháng đầu năm, nhiều thị trường mới nổi ghi nhận mức tăng trưởng nhập khẩu thép từ Việt Nam rất tích cực. Brazil dẫn đầu với 331.590 tấn, trị giá 225,02 triệu USD, tăng 232,25% về lượng và 320,14% về trị giá. Thổ Nhĩ Kỳ đạt 138.942 tấn, tương ứng 79,9 triệu USD, tăng 151,98% về lượng và 114,60% về trị giá. Đáng chú ý, Nga ghi nhận mức tăng trưởng cao nhất với 10.910 tấn, trị giá 18,94 triệu USD, tăng tới 1.990,04% về lượng và 3.381,77% về trị giá. Trong khi đó, Philippines nhập khẩu 61.530 tấn, trị giá 31,17 triệu USD, tăng lần lượt 38,43% về lượng và 39,76% về trị giá. Sự tăng trưởng tại các thị trường này chủ yếu đến từ nhu cầu xây dựng và công nghiệp phục hồi, cùng với lợi thế cạnh tranh về giá và nguồn cung ổn định của thép Việt Nam.
Bên cạnh các thị trường tăng trưởng tích cực, nhiều thị trường truyền thống tiếp tục ghi nhận sự sụt giảm. Australia giảm 41,84% về lượng và 33,25% về trị giá; Đài Loan (Trung Quốc) giảm 21,65% về lượng và 10,85% về trị giá; Hàn Quốc giảm 23,50% về lượng và tới 50,72% về trị giá. Anh giảm 62,44% về lượng và 62,73% về trị giá, trong khi Singapore giảm 83,46% về lượng và 62,33% về trị giá. Sự sụt giảm xuất khẩu sang các thị trường này chủ yếu do nhu cầu tiêu thụ thép còn yếu, cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các nguồn cung khác và ảnh hưởng của các rào cản thương mại. Riêng tại Hàn Quốc, mức giảm mạnh về kim ngạch cho thấy giá xuất khẩu bình quân sang thị trường này cũng giảm đáng kể.
Nhìn chung, trong 6 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sắt thép của Việt Nam duy trì được sự ổn định khi kim ngạch vẫn tăng nhẹ mặc dù sản lượng giảm so với cùng kỳ năm trước. Campuchia và Hoa Kỳ tiếp tục là hai thị trường xuất khẩu chủ lực, trong khi Brazil, Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ và Nga nổi lên là những thị trường có tốc độ tăng trưởng rất cao. Tuy nhiên, sự sụt giảm tại một số thị trường lớn ở châu Âu, Đông Bắc Á và châu Đại Dương cho thấy ngành thép vẫn phải đối mặt với những thách thức từ nhu cầu thế giới phục hồi chưa đồng đều, cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt cũng như các yêu cầu về môi trường và thuế carbon tại nhiều thị trường nhập khẩu. Dù vậy, với việc tiếp tục mở rộng thị phần tại các thị trường mới và duy trì lợi thế cạnh tranh về chất lượng cũng như giá thành, triển vọng xuất khẩu sắt thép của Việt Nam trong thời gian tới vẫn được đánh giá tương đối tích cực.
 
Xuất khẩu sắt thép các loại 6 tháng đầu năm 2026
(Tính toán theo số liệu công bố ngày 8/7/2026 của CHQ)
 
Thị trường
6 Tháng/2026
 
Tăng giảm so với
6 tháng/2025 (%)
Tỷ trọng (%)
Lượng (tấn)
Trị giá (USD)
Lượng
Trị giá
Lượng
Trị giá
Tổng KNXK
USD)
5.546.188
3.701.939.325
-1,79
0,27
100
100
Campuchia
781.729
459.763.175
2,28
5,04
14,09
12,42
Hoa Kỳ
735.901
459.148.739
35,14
33,67
13,27
12,4
Ấn Độ
397.045
389.276.369
-18,33
11,71
7,16
10,52
Indonesia
452.055
255.292.163
32,04
29,01
8,15
6,9
Malaysia
396.112
250.030.787
25,67
22,83
7,14
6,75
Brazil
331.590
225.023.029
232,25
320,14
5,98
6,08
Bỉ
378.277
220.520.445
39,66
15,06
6,82
5,96
Italy
299.968
180.122.650
-46,92
-49,78
5,41
4,87
Đài Loan (Trung Quốc)
215.416
165.127.755
-21,65
-10,85
3,88
4,46
Ba Lan
218.599
150.716.610
360,72
258,13
3,94
4,07
Thái Lan
148.878
121.523.875
-21,63
-12,81
2,68
3,28
Australia
151.421
104.842.009
-41,84
-33,25
2,73
2,83
Hàn Quốc
128.829
84.283.527
-23,5
-50,72
2,32
2,28
Thổ Nhĩ Kỳ
138.942
79.941.176
151,98
114,6
2,51
2,16
Tây Ban Nha
83.194
64.052.834
-58,21
-56,89
1,5
1,73
Nhật Bản
35.160
48.830.750
27,98
54,99
0,63
1,32
Anh
47.797
32.646.120
-62,44
-62,73
0,86
0,88
Philippines
61.530
31.174.366
38,43
39,76
1,11
0,84
Lào
28.157
21.764.796
-33,08
-30,12
0,51
0,59
Nga
10.910
18.941.962
1,990,04
3,381,77
0,2
0,51
Trung Quốc (Đại lục)
12.903
18.726.637
26,41
34,31
0,23
0,51
Singapore
7.844
9.557.204
-83,46
-62,33
0,14
0,26
Các tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất
4.449
8.846.458
-15,93
70,2
0,08
0,24
Myanmar
4.859
3.853.780
74,53
72,46
0,09
0,1
Đức
2.744
2.721.658
-95,67
-91,07
0,05
0,07
Ả Rập Xê Út
1.878
1.492.647
-66,54
-64,14
0,03
0,04
Ai Cập
594
1.167.044
 
 
0,01
0,03
Kuwait
1.496
1.101.905
1,474,74
1,094,37
0,03
0,03
Hồng Kông (Trung Quốc)
71
392.907
-99,32
-91,91
0
0,01
Achentina
96
242.636
-97,83
-90,23
0
0,01
Pakistan
127
155.418
876,92
551,65
0
0
Nguồn: Cục Hải quanViệt Nam
N.Hao
Nguồn: VITIC
  

  PRINT     BACK

© Bộ Công Thương- Trung tâm Thông tin Công Nghiệp và Thương mại (VITIC)

Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 115/GP-TTĐT, cấp ngày 5/6/2024

Người chịu trách nhiệm chính: Nguyễn Quốc Lân, Phó Giám đốc Trung tâm Thông tin Công nghiệp và Thương mại

Địa chỉ: Tòa nhà Bộ Công Thương, số 655 Phạm Văn Đồng, phường Nghĩa Đô, thành phố Hà Nội.

ĐT: (04)39341911; (04)38251312 và Fax: (04)38251312

Email: Asemconnectvietnam@gmail.com;

Ghi rõ nguồn "Asemconnectvietnam.gov.vn" khi đăng lại thông tin từ kênh thông tin này

Số lượt truy cập: 25743584116