Nhập khẩu ngô, đậu tương của Việt Nam tăng, nhập khẩu lúa mì giảm trong tháng 5/2026
Thứ ba, 30-6-2026
AsemconnectVietnam - Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, trong tháng 5/2026 nhập khẩu ngô tăng 2,7%, đậu tương tăng 159,1% về lượng, nhập khẩu lúa mì giảm giảm 65,75% so với tháng 4/2026.
Ngô
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu ngô trong tháng 5/2026 đạt 839.743 tấn, tương đương gần 215 triệu USD, giá trung bình 256 USD/tấn, tăng 2,7% về lượng, tăng 3,19% về kim ngạch và tăng 0,48% về giá so với tháng 4/2026. Tuy nhiên, so với tháng 5/2025 giảm 14,9% về lượng, giảm 16,9% kim ngạch và giảm 2,35% về giá. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu ngô đạt 5,284 triệu tấn, tương đương 1,32 tỷ USD, giá trung bình 250 USD/tấn, tăng 32,79% về lượng và tăng 28,08% kim ngạch so với 5 tháng đầu năm 2025, nhưng giá giảm 3,55%.
Ngô nhập khẩu về Việt Nam nhiều nhất từ thị trường Brazil, trong tháng 5/2026 nhập khẩu đạt 83.329 tấn, tương đương 20,879 triệu USD, giá trung bình 250,56 USD/tấn, tăng 4,02% về lượng, tăng 2,09% kim ngạch nhưng giá giảm 1,86% so với tháng 4/2026. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu của Việt Nam từ Brazil đạt 2,34 triệu tấn, tương đương 577,7 triệu USD, giá trung bình 246,8 USD/tấn, tăng 133,3% về lượng và tăng 131% về kim ngạch, nhưng giảm 1,03% về giá so với 5 tháng đầu năm 2025, chiếm 44,3% trong tổng lượng và chiếm 43,73% trong tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước.
Achentina là thị trường lớn thứ 2 cung cấp ngô cho Việt Nam, trong tháng 5/2026 nhập khẩu đạt 512.6 tấn, tương đương 130,4 triệu USD, giá trung bình 254,4 USD/tấn, tăng 5,45% về lượng, tăng 6,22% kim ngạch và tăng 0,73% về giá so với tháng 4/2026. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu đạt 1,63 triệu tấn, tương đương 411,7 triệu USD, giá trung bình 252,09 USD/tấn, giảm 17,17% về lượng, giảm 19,36% kim ngạch và giá giảm 2,64% so với 5 tháng đầu năm 2025; chiếm 30,91% trong tổng lượng và chiếm 31,17% trong tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước.
Tiếp theo, nhập khẩu ngô từ thị trường Ấn Độ trong tháng 5/2026 đạt 149.072 tấn, tương đương 38,1 triệu USD, giá 255,58 USD/tấn, tăng 41,77% về lượng, tăng 45,36% về kim ngạch và giá tăng 2,54% so với tháng 4/2026.
Đậu tương
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu đậu tương trong tháng 5/2026 đạt 559.802 tấn, tương đương 268,2 triệu USD, giá trung bình 479,21 USD/tấn, tăng 159,1% về lượng, tăng 157,1% về kim ngạch, nhưng giá giảm 0,78% so với tháng 4/2026; so với tháng 5/2025 tăng cả về lượng, kim ngạch và giá, với mức tăng tương ứng 139,4%, 141,8% và 1,03%.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu đậu tương đạt 1,695 triệu tấn, tương đương 809,9 triệu USD, giá trung bình 477,8 USD/tấn, tăng 80,87% về lượng và tăng 88,81% kim ngạch và tăng 4,39% về giá so với 5 tháng đầu năm 2025.
Đậu tương nhập khẩu về Việt Nam nhiều nhất từ thị trường Brazil, tháng 5/2026 nhập khẩu 430.820 tấn, tương đương 207,09 triệu USD, giá trung bình 480,69 USD/tấn, tăng 167,68% về lượng, tăng167,88% kim ngạch và tăng 0,07% về so với tháng 4/2026.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu đạt 869.340 tấn, tương đương 417,78 triệu USD, giá trung bình 480,57 USD/tấn; chiếm 51,28% trong tổng lượng và chiếm 51,58% trong tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước.
Hoa Kỳ là thị trường lớn thứ 2 cung cấp đậu tương cho Việt Nam trong tháng 5/2026. Tháng 5/2026 nhập khẩu 69.646 tấn đậu tương, tương đương 34,2 triệu USD, giá trung bình 491,2 USD/tấn; chiếm 39,22% trong tổng lượng và chiếm 39,09% trong tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước,
Ngoài ra, Việt Nam còn nhập khẩu đậu tương từ thị trường Achentina, Canada và Campuchia.
Lúa mì
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu lúa mì các loại trong tháng 5/2026 đạt 393.747 tấn, tương đương 106,77 triệu USD, giá trung bình 271,17 USD/tấn, giảm 65,75% về lượng và 63,03% về kim ngạch, nhưng tăng 7,94% về giá so với tháng 4/2026. So với tháng 5/2025 thì tăng 17,62% về lượng, tăng 18,09% về kim ngạch và tăng 0,4% về giá.
Tính chung 5 tháng đầu năm 2026 đạt 4,376 triệu tấn, trị giá 1,125 tỷ USD, giá trung bình 257,24 USD/tấn, tăng 59,73% về lượng, tăng 54,56% kim ngạch và giảm 3,24% về giá so với 5 tháng năm 2025.
Lúa mì nhập khẩu về Việt Nam nhiều nhất từ thị trường Australia, tháng 5/2026 nhập khẩu 10.614 tấn, tương đương 3,132 triệu USD, giá trung bình 295,11 USD/tấn, giảm 90,51% về lượng, giảm 90% kim ngạch, nhưng giá tăng 5,51% so với tháng 4/2026. So với tháng 5/2025, giảm 88,5% về lượng, giảm 87,6% về kim ngạch và tăng 7,66% về giá. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu đạt 591.327 tấn, trị giá 163,77 triệu USD; chiếm 13,51% trong tổng lượng và chiếm 14,55% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước.
Brazil là thị trường lớn thứ 2 cung cấp lúa mì cho Việt Nam trong 5 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu đạt 423.566 tấn, tương đương 108,7 triệu USD, giá trung bình 256,73 USD/tấn, giảm 57,17% về lượng, giảm 57,26% kim ngạch và giảm 0,2% về giá so với cùng kỳ năm 2025; chiếm 9,68% trong tổng lượng và chiếm 9,66% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước.
Ngoài ra, Việt Nam cũng nhập khẩu lúa mì từ thị trường Canada, Hoa Kỳ và Ukraine.
Nguồn: VITIC
Nornickel dự báo thị trường niken toàn cầu dần cân bằng
Thị trường kim loại thế giới ngày 3/7: Vàng, nhôm và đồng đồng loạt tăng, quặng sắt giảm do tồn kho tại Trung Quốc lập kỷ lục
Thị trường nông sản thế giới ngày 3/7: Dầu cọ hướng tới tuần giảm thứ hai liên tiếp, cà phê diễn biến trái chiều
Thị trường kim loại thế giới ngày 2/7: Nhôm và quặng sắt tăng, vàng phục hồi nhờ dữ liệu việc làm Mỹ suy yếu
Thị trường nông sản thế giới ngày 2/7: Dầu cọ chịu áp lực nguồn cung, cà phê và đường tăng mạnh, lúa mì nối dài đà phục hồi
Nhập khẩu dầu thô của châu Á tăng nhẹ trong tháng 6
EU công bố hạn ngạch nhập khẩu thép mới nhằm bảo vệ ngành công nghiệp trước tình trạng dư thừa công suất
USDA: Nông dân Mỹ giảm 3% diện tích trồng ngô, tăng 5% diện tích đậu tương trong năm 2026
Xuất khẩu thức ăn gia súc của Việt Nam tăng, nhập khẩu giảm trong 5 tháng đầu năm 2026
Việt Nam tăng xuất khẩu, giảm nhập khẩu phân bón trong 5 tháng đầu năm 2026
Giá phân bón thế giới tháng 6/2026 giảm
Thị trường thép châu Á tiếp tục chịu áp lực giảm giá, triển vọng ngắn hạn vẫn nghiêng về xu hướng suy yếu
Sản lượng thép thanh của Trung Quốc giảm 12,2% trong 5 tháng đầu năm
Giá DDGS của Mỹ giảm trong tháng 6/2026 do nhu cầu yếu và nguồn cung tăng gây áp lực lên thị trường

