Xuất khẩu sắt thép Việt Nam duy trì ổn định trong 5 tháng đầu năm 2026
Thứ ba, 16-6-2026
AsemconnectVietnam - Theo số liệu tính toán từ Cục Hải quan Việt Nam, trong 5 tháng đầu năm 2026, cả nước đã xuất khẩu 4,71 triệu tấn sắt thép các loại, đạt kim ngạch 3,09 tỷ USD, giảm 0,32% về lượng nhưng tăng 0,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Giá xuất khẩu bình quân đạt 656,11 USD/tấn, tăng 0,42% so với cùng kỳ năm trước. Kết quả này cho thấy giá xuất khẩu thép nhìn chung vẫn chịu áp lực trong bối cảnh nhu cầu tiêu thụ trên thị trường toàn cầu có sự phân hóa rõ nét giữa các khu vực.
Trong 5 tháng đầu năm 2025, Hoa Kỳ là thị trường xuất khẩu sắt thép lớn nhất của Việt Nam với 661.171 tấn, tương ứng 396,6 triệu USD, tăng mạnh 33,53% về lượng và 28,69% về trị giá. Hoa Kỳ hiện là thị trường mang lại giá trị xuất khẩu lớn nhất, chiếm 12,84% tổng kim ngạch xuất khẩu sắt thép của Việt Nam.
Đứng thứ 2 là Campuchia với 663.675 tấn, đạt kim ngạch 385,8 triệu USD, tăng lần lượt 5,24% về lượng và 6,92% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Thị trường này chiếm 14,09% tổng lượng xuất khẩu và 12,49% tổng kim ngạch toàn ngành.
Ấn Độ tiếp tục giữ vị trí thứ ba với 341.280 tấn, trị giá 340,7 triệu USD. Mặc dù sản lượng xuất khẩu giảm 6,84%, kim ngạch vẫn tăng tới 28,63%, cho thấy giá trị đơn hàng xuất khẩu sang thị trường này đã được cải thiện đáng kể.
Trong nhóm các nước ASEAN, Indonesia đạt 422.145 tấn, tương ứng 237,3 triệu USD, tăng lần lượt 28,67% về lượng và 26,03% về trị giá. Malaysia cũng ghi nhận kết quả tích cực với 336.970 tấn, trị giá gần 210 triệu USD, tăng 18,75% về lượng và 15,98% về trị giá.
Bên cạnh đó, Thái Lan nhập khẩu 138.432 tấn, đạt 107 triệu USD, giảm 11,95% về lượng nhưng chỉ giảm 4,01% về trị giá, phản ánh giá xuất khẩu sang thị trường này có xu hướng tăng.
Tại châu Âu, Bỉ tiếp tục là điểm sáng khi nhập khẩu 290.157 tấn, trị giá 176,1 triệu USD, tăng 25,76% về lượng và 6,7% về trị giá.
Ngược lại, Italy giảm mạnh xuống còn 265.192 tấn, tương ứng 156,1 triệu USD, giảm 37,32% về lượng và 42,33% về trị giá. Tây Ban Nha cũng suy giảm sâu với mức giảm trên 56% cả về lượng và giá trị xuất khẩu. Đặc biệt, Đức chỉ còn nhập khẩu 2.346 tấn, đạt 2,32 triệu USD, giảm tới 96,28% về lượng và 92,31% về trị giá. Sự sụt giảm tại các thị trường châu Âu chủ yếu xuất phát từ nhu cầu tiêu thụ thép vẫn ở mức thấp do ngành xây dựng và sản xuất công nghiệp phục hồi chậm, trong khi các doanh nghiệp tiếp tục thận trọng trước những bất ổn kinh tế. Bên cạnh đó, các biện pháp phòng vệ thương mại, yêu cầu ngày càng khắt khe về tiêu chuẩn môi trường và xu hướng ưu tiên nguồn cung nội khối của Liên minh châu Âu (EU) cũng làm giảm sức cạnh tranh của thép nhập khẩu từ các nước ngoài khu vực, trong đó có Việt Nam. Điều này cho thấy nhu cầu thép tại một số thị trường châu Âu vẫn chưa phục hồi rõ rệt.
Một trong những điểm đáng chú ý nhất là sự bứt phá mạnh mẽ tại một số thị trường mới nổi: Ba Lan nhập khẩu 126.976 tấn, trị giá 90,5 triệu USD, tăng tới 219,44% về lượng và 163,24% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Thổ Nhĩ Kỳ đạt 138.941 tấn, tương ứng 79,9 triệu USD, tăng 187,78% về lượng và 226,67% về trị giá. Brazil cũng ghi nhận mức tăng trưởng rất cao với 256.501 tấn, đạt 168,3 triệu USD, tăng 157,6% về lượng và tới 215,18% về trị giá. Đáng chú ý, Philippines đạt 61.124 tấn, trị giá 30,5 triệu USD, tăng 399,3% về lượng và 276,45% về trị giá, trong khi Nga ghi nhận mức tăng trưởng mạnh nhất với 5.583 tấn, trị giá 8,3 triệu USD, tăng tới 1.080,34% về lượng và 1.582,85% về trị giá. Sự tăng trưởng tại các thị trường này chủ yếu đến từ nhu cầu xây dựng và công nghiệp phục hồi, đồng thời thép Việt Nam tiếp tục duy trì lợi thế cạnh tranh về giá và nguồn cung ổn định.
Bên cạnh các thị trường tăng trưởng tích cực, nhiều thị trường truyền thống lại ghi nhận sự sụt giảm đáng kể. Cụ thể, Anh giảm 64,22% về lượng và 64,7% về trị giá, chỉ còn 40.540 tấn và 27,2 triệu USD. Australia giảm 42,25% về lượng và 36,11% về trị giá. Đài Loan giảm 31,15% về lượng và 22,92% về trị giá, trong khi Hàn Quốc giảm 14,03% về lượng nhưng kim ngạch giảm tới 50,44%. Ngoài ra, Singapore tiếp tục suy giảm sâu khi lượng xuất khẩu giảm 86,37% và kim ngạch giảm 66,41% so với cùng kỳ năm trước.
Sự sụt giảm xuất khẩu sang các thị trường truyền thống chủ yếu do nhu cầu tiêu thụ thép suy yếu, cạnh tranh gia tăng từ các nguồn cung khác, giá thép thế giới giảm và tác động của các rào cản thương mại. Đặc biệt, mức giảm mạnh về kim ngạch tại Hàn Quốc cho thấy giá xuất khẩu bình quân sang thị trường này đã giảm đáng kể.
Nhìn chung, trong 5 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu sắt thép của Việt Nam duy trì được sự ổn định với kim ngạch tăng nhẹ dù sản lượng gần như không thay đổi. Hoa Kỳ và Campuchia tiếp tục là hai thị trường chủ lực, trong khi nhiều thị trường như Ba Lan, Thổ Nhĩ Kỳ, Brazil, Philippines và Nga ghi nhận tốc độ tăng trưởng rất cao.
Tuy nhiên, sự sụt giảm tại một số thị trường lớn ở châu Âu, Đông Bắc Á và châu Đại Dương cho thấy ngành thép vẫn phải đối mặt với những thách thức từ nhu cầu thế giới chưa phục hồi đồng đều, cạnh tranh quốc tế ngày càng gay gắt và các yêu cầu về môi trường, thuế carbon tại nhiều thị trường nhập khẩu. Dù vậy, với đà tăng trưởng của thị trường nội địa và khả năng mở rộng thị phần tại các thị trường mới, triển vọng xuất khẩu thép của Việt Nam trong những tháng tiếp theo vẫn được đánh giá tương đối khả quan.
Xuất khẩu sắt thép các loại 5 tháng đầu năm 2026
(Tính toán theo số liệu công bố ngày 12/6/2026 của CHQ)
|
Thị trường
|
5Tháng/2026
|
Tăng giảm so với
5tháng/2025 (%)
|
Tỷ trọng (%)
|
|||
|
Lượng (tấn)
|
Trị giá (USD)
|
Lượng
|
Trị giá
|
Lượng
|
Trị giá
|
|
|
Tổng KNXK (USD)
|
4.709.085
|
3.089.672.714
|
-0,32
|
0,1
|
100
|
100
|
|
Hoa Kỳ
|
661.171
|
396.593.832
|
33,53
|
28,69
|
14,04
|
12,84
|
|
Campuchia
|
663.675
|
385.781.896
|
5,24
|
6,92
|
14,09
|
12,49
|
|
Ấn Độ
|
341.280
|
340.724.538
|
-6,84
|
28,63
|
7,25
|
11,03
|
|
Indonesia
|
422.145
|
237.264.453
|
28,67
|
26,03
|
8,96
|
7,68
|
|
Malaysia
|
336.970
|
209.964.923
|
18,75
|
15,98
|
7,16
|
6,8
|
|
Bỉ
|
290.157
|
176.128.662
|
25,76
|
6,7
|
6,16
|
5,7
|
|
Brazil
|
256.501
|
168.270.238
|
157,6
|
215,18
|
5,45
|
5,45
|
|
Italy
|
265.192
|
156.109.407
|
-37,32
|
-42,33
|
5,63
|
5,05
|
|
Đài Loan (Trung Quốc)
|
159.476
|
120.984.709
|
-31,15
|
-22,92
|
3,39
|
3,92
|
|
Thái Lan
|
138.432
|
107.006.572
|
-11,95
|
-4,01
|
2,94
|
3,46
|
|
Ba Lan
|
126.976
|
90.514.744
|
219,44
|
163,24
|
2,7
|
2,93
|
|
Thổ Nhĩ Kỳ
|
138.941
|
79.938.590
|
187,78
|
226,67
|
2,95
|
2,59
|
|
Hàn Quốc
|
112.235
|
72.205.494
|
-14,03
|
-50,44
|
2,38
|
2,34
|
|
Australia
|
92.217
|
67.390.935
|
-42,25
|
-36,11
|
1,96
|
2,18
|
|
Tây Ban Nha
|
68.449
|
52.667.490
|
-58,43
|
-56,98
|
1,45
|
1,7
|
|
Nhật Bản
|
28.583
|
38.504.685
|
28,28
|
47,98
|
0,61
|
1,25
|
|
Philippines
|
61.124
|
30.469.641
|
399,3
|
276,45
|
1,3
|
0,99
|
|
Anh
|
40.540
|
27.160.761
|
-64,22
|
-64,7
|
0,86
|
0,88
|
|
Lào
|
23.545
|
18.079.188
|
-30,28
|
-27,09
|
0,5
|
0,59
|
|
Trung Quốc (Đại lục)
|
10.573
|
15.248.663
|
16,1
|
22,12
|
0,22
|
0,49
|
|
Nga
|
5.583
|
8.296.013
|
1,080,34
|
1,582,85
|
0,12
|
0,27
|
|
Singapore
|
6.361
|
8.289.251
|
-86,37
|
-66,41
|
0,14
|
0,27
|
|
Các tiểu Vương Quốc Ả Rập Thống Nhất
|
3.864
|
7.155.684
|
-26,76
|
38,14
|
0,08
|
0,23
|
|
Myanmar
|
4.217
|
3.339.523
|
55,72
|
53,26
|
0,09
|
0,11
|
|
Đức
|
2.346
|
2.320.609
|
-96,28
|
-92,31
|
0,05
|
0,08
|
|
Ả Rập Xê Út
|
1.873
|
1.487.619
|
-60,84
|
-58,02
|
0,04
|
0,05
|
|
Kuwait
|
1.496
|
1.101.905
|
|
|
0,03
|
0,04
|
|
Ai Cập
|
446
|
891.162
|
|
|
0,01
|
0,03
|
|
Hồng Kông (Trung Quốc)
|
46
|
282.681
|
-99,56
|
-94,08
|
0
|
0,01
|
|
Achentina
|
96
|
242.636
|
-97,83
|
-90,23
|
0
|
0,01
|
|
Pakistan
|
28
|
88.111
|
|
|
0
|
0
|
Nguồn: Cục Hải quanViệt Nam
N.HaoNguồn: VITIC
Bộ Công Thương phối hợp thúc đẩy xuất khẩu tăng trưởng hai con số
Thâm hụt thương mại của Việt Nam đạt 5,21 tỷ USD trong tháng 5 năm 2026
Quy định mới nhất về quá cảnh hàng hóa của Lào qua Việt Nam
Cập nhật quy định quản lý ngoại thương và hạn ngạch nhập khẩu
Trao đổi thương mại Việt Nam - ASEAN 5 tháng đầu năm 2026
Ban hành Nghị định số 201/2026/NĐ-CP về sửa đổi Biểu thuế xuất khẩu
Cán cân thương mại hàng hóa Việt Nam tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026
Nhập khẩu ngô của Việt Nam giảm
Xuất khẩu thủy sản Việt Nam tháng 5 và 5 tháng đầu năm 2026
Xuất khẩu rau quả của Việt Nam duy trì tốc độ tăng trưởng tốt
Bộ Công Thương ban hành danh mục hàng nhập khẩu phải kiểm tra an toàn thực phẩm
Xây dựng bản đồ ranh giới rừng 2020: Giảm rủi ro khi xuất khẩu sang EU
ASEAN: Thị trường quan trọng của dệt may Việt Nam
Xuất khẩu nông lâm thủy sản vượt 30 tỷ USD sau 5 tháng năm 2026

