Chỉ số sản xuất công nghiệp của Việt Nam tháng 5 và 5 tháng năm 2026
Thứ sáu, 12-6-2026
AsemconnectVietnam - Theo Cục thống kê, Bộ Tài chính, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 5/2026 ước tăng 3,3% so với tháng trướcvà tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,0% so với cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,7%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,5%; ngành khai khoáng tăng 6,0%.
Tốc độ tăng/giảm chỉ số IIP tháng 5/2026 so với tháng trước của một số địa phương có quy mô công nghiệp lớn: Đà Nẵng tăng 25,3%; Quảng Ngãi tăng 10,2%; Vĩnh Long tăng 4,4%; Cần Thơ tăng 4,2%; Đồng Nai tăng 4,0%; Bắc Ninh tăng 3,7%; Thành phố Hồ Chí Minh tăng 1,2%; Quảng Ninh giảm 5,0%; Hải Phòng giảm 2,0%.
5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của 5 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước trong 4 năm gần đây.
Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9,1%
Theo báo cáo kinh tế - xã hội tháng 5 và 5 tháng năm 2026 được Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố ngày 3/6, sản xuất công nghiệp tháng 5 tiếp tục duy trì đà tăng trưởng tích cực. Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp trong tháng tăng 3,3% so với tháng trước và tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung 5 tháng đầu năm 2026, chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước, là mức tăng cao nhất của 5 tháng đầu năm so với cùng kỳ năm trước trong 4 năm gần đây.
Chỉ số sản xuất toàn ngành công nghiệp (IIP) tháng 5 tăng 3,3% so với tháng trước và tăng 8,8% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,0% so với cùng kỳ năm trước; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 8,7%; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 8,5%; ngành khai khoáng tăng 6,0%.
Đáng chú ý, tính chung 5 tháng năm 2026, IIP tăng 9,1% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2025 tăng 8,8%). Trong đó, ngành chế biến, chế tạo tăng 9,5% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,9%), đóng góp 7,4 điểm phần trăm trong mức tăng chung; ngành khai khoáng tăng 5,5% (cùng kỳ năm 2025 giảm 4,1%), đóng góp 0,9 điểm phần trăm; ngành sản xuất và phân phối điện tăng 7,6% (cùng kỳ năm 2025 tăng 4,2%), đóng góp 0,7 điểm phần trăm; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 9,5% (cùng kỳ năm 2025 tăng 10,8%), đóng góp 0,1 điểm phần trăm.
Chỉ số sản xuất công nghiệp 5 tháng năm 2026 của một số ngành trọng điểm cấp II tăng so với cùng kỳ năm trước: Sản xuất kim loại tăng 20,2%; sản xuất xe có động cơ tăng 18,0%; sản xuất hoá chất và sản phẩm hoá chất tăng 16,9%; sản xuất sản phẩm từ khoáng phi kim loại khác tăng 16,2%; sản xuất đồ uống tăng 15,1%; sản xuất giường, tủ, bàn, ghế tăng 11,6%; sản xuất chế biến thực phẩm tăng 11,2%; sản xuất sản phẩm từ cao su và plastic tăng 10,9%; sản xuất giấy và sản phẩm từ giấy tăng 10,7%; sản xuất sản phẩm từ kim loại đúc sẵn (trừ máy móc, thiết bị) tăng 9,6%; dệt tăng 9,3%; sản xuất sản phẩm điện tử, máy vi tính và sản phẩm quang học tăng 7,5%.
Ở chiều ngược lại, chỉ số IIP của một số ngành giảm so với cùng kỳ năm trước: Khai thác than cứng và than non giảm 4,6%; sản xuất phương tiện vận tải khác giảm 1,0%.
34 địa phương ghi nhận công nghiệp tăng trưởng
Báo cáo cũng nêu cụ thể, chỉ số sản xuất công nghiệp năm tháng đầu năm 2026 so với cùng kỳ năm trước tăng ở cả 34 địa phương. Một số địa phương có chỉ số IIP đạt mức tăng khá nhờ ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành sản xuất và phân phối điện tăng cao. Ở chiều ngược lại, một số địa phương có chỉ số IIP tăng thấp do ngành công nghiệp chế biến, chế tạo; ngành khai khoáng và ngành sản xuất, phân phối điện tăng thấp hoặc giảm Một số sản phẩm công nghiệp chủ lực trong năm tháng đầu năm 2026 tăng so với cùng kỳ năm trước: Xe máy tăng 36,0%; ô tô tăng 26,7%; thủy hải sản chế biến tăng 21,6%; thép cán tăng 21,5%; đường kính và bia cùng tăng 14,4%; sơn hóa học tăng 14,3%. Ở chiều ngược lại, một số sản phẩm giảm so với cùng kỳ năm trước: Phân hỗn hợp NPK giảm 6,8%; bột ngọt giảm 6,0%; giày, dép da giảm 5,7%; than (than sạch) giảm 4,7%.
Bên cạnh đó, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp công nghiệp tại thời điểm 1/5/2026 tăng 1,1% so với cùng thời điểm tháng trước và tăng 3,4% so với cùng thời điểm năm trước. Trong đó, lao động khu vực doanh nghiệp Nhà nước tăng 0,1% so với tháng trước và tăng 1,7% so với cùng kỳ năm trước; doanh nghiệp ngoài Nhà nước tăng 0,6% và tăng 2,6%; doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tăng 1,5% và tăng 3,4%.
Theo ngành hoạt động, số lao động đang làm việc trong các doanh nghiệp ngành khai khoáng tăng 0,1% so với cùng thời điểm tháng trước và giảm 0,1% so với cùng thời điểm năm trước; ngành chế biến, chế tạo tăng 1,2% và tăng 3,5%; ngành sản xuất và phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí tăng 0,1% và tăng 3,0%; ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 0,2% và tăng 2,8%.
Nguồn: VITIC/ nso.gov.vn/congthuong.com.vn
Các chỉ số kinh tế chủ đạo của Việt Nam trong tháng 5/2026
Hàn Quốc giữ nguyên lãi suất chủ chốt
Ngành sản xuất của Áo cải thiện trong tháng 5
Chỉ số PMI ngành sản xuất Việt Nam tháng 5/2026
PMI sản xuất Nhật Bản sụt giảm
Tình hình lạm phát tại Philippines trong tháng 5
Thâm hụt thương mại của Philippines tăng cao
Chỉ số PMI ngành sản xuất Việt Nam tháng 5/2026
Chỉ số sản xuất công nghiệp của Việt Nam tháng 5 và 5 tháng năm 2026
OECD hạ triển vọng tăng trưởng kinh tế toàn cầu
Những thách thức đối với ngành dược phẩm của Nhật Bản
Doanh số bán lẻ tại Ba Lan sụt giảm
Goldman Sachs: Đồng nhân dân tệ đang mở rộng ảnh hưởng trong thương mại toàn cầu
Lợi nhuận công nghiệp Trung Quốc phục hồi sau 3 năm giảm sút

