Nợ xấu tại các ngân hàng tăng
Thứ sáu, 29-5-2026
AsemconnectVietnam - Nợ xấu tăng lên buộc các nhà băng tăng mạnh trích lập dự phòng để đảm bảo an toàn, thay vì ưu tiên lợi nhuận trong ngắn hạn.
Lãi suất neo cao, cảnh báo nợ xấu vọt tăng với ngân hàng bán lẻ
Trong báo cáo về ngành ngân hàng vừa mới công bố, các chuyên gia phân tích VIS Rating cho rằng, lãi suất cao do áp lực thanh khoản toàn hệ thống và các yếu tố bất lợi bên ngoài đang làm suy giảm chất lượng tài sản và khả năng sinh lời của các nhà băng.
Trong 3 tháng đầu năm 2026, các ngân hàng quy mô vừa ghi nhận mức suy giảm hồ sơ tín nhiệm rõ rệt nhất, đến từ việc gia tăng nợ quá hạn từ phân khúc khách hàng cá nhân, đồng thời ROAA giảm trong bối cảnh biên lãi ròng (NIM) thu hẹp và chi phí tín dụng tăng cao.
Ngược lại, các ngân hàng lớn và ngân hàng quốc doanh (SOB) nhìn chung duy trì chất lượng tài sản và lợi nhuận ổn định, nhờ vào danh mục cho vay đa dạng, nền tảng khách hàng tốt và nguồn thu nhập ổn định từ phí.
“Trong thời gian tới, việc lãi suất tiếp tục neo ở mức cao cùng với đòn bẩy hộ gia đình gia tăng sẽ làm tăng rủi ro suy giảm chất lượng tài sản, đặc biệt đối với các ngân hàng có mức độ tập trung cao vào cho vay bán lẻ và bộ đệm chống chịu rủi ro còn hạn chế”, nhóm chuyên gia phân tích cảnh báo.
Báo cáo tài chính quý I/2026 cho thấy, tỷ lệ nợ có vấn đề toàn ngành đã tăng 11 điểm cơ bản so với quý trước lên mức 2,2%, phản ánh việc gia tăng hình thành nợ xấu mới.
Chất lượng tài sản suy giảm tập trung ở các ngân hàng quy mô vừa và nhỏ (ví dụ: LPBank, OCB, TPBank, PGBank, Bac A Bank, VietBank), chủ yếu do gia tăng nợ quá hạn cho vay mua nhà, kinh doanh hộ gia đình và tiêu dùng tín chấp, cùng mức giảm khoảng 10 điểm phần trăm của tỷ lệ bao phủ nợ xấu.
Ngược lại, các ngân hàng lớn (bao gồm các ngân hàng quốc doanh và tư nhân, như Vietcombank, VietinBank, ACB, Techcombank) duy trì chất lượng tài sản nhìn chung ổn định, nhờ danh mục cho vay đa dạng, nền tảng khách hàng tốt hơn và bộ đệm dự phòng lớn.
Tỷ lệ ROAA quý I/2026 của toàn ngành giảm 10 điểm cơ bản so với quý trước xuống 1,4% trong 3 tháng đầu năm 2026, khi NIM thu hẹp trung bình 11 điểm cơ bản do chi phí vốn tăng cao - rõ nét nhất tại các ngân hàng nhỏ và vừa với mạng lưới huy động tiền gửi hạn chế hơn.
Các ngân hàng lớn duy trì khả năng sinh lời nhìn chung ổn định, được hỗ trợ bởi NIM cải thiện (ví dụ: Vietcombank, VietinBank); hoặc được hỗ trợ bởi thu nhập từ kênh bảo hiểm (Bancassurance) phục hồi và chi phí tín dụng thấp hơn (ví dụ: ACB, Techcombank), cùng với việc kiểm soát chi phí chặt chẽ.
Nhóm phân tích cảnh báo xu hướng thu hẹp NIM và chi phí tín dụng gia tăng sẽ làm giảm lợi nhuận cốt lõi của các ngân hàng nhỏ và vừa trong 2026, với bối cảnh cạnh tranh nguồn vốn và áp lực từ chất lượng tài sản duy trì ở mức cao.
VIS Rating cũng cho rằng, thanh khoản hệ thống thắt chặt và các hạn chế về nguồn vốn sẽ khiến chi phí huy động neo ở mức cao trong ngắn hạn.
Trong quý I/2026, tỷ lệ tiền gửi CASA trên tổng dư nợ cho vay của toàn ngành giảm 2 điểm phần trăm so với quý trước xuống 18%, phản ánh tiền gửi sụt giảm ở cả nhóm khách hàng cá nhân (ví dụ: Techcombank, ACB) và doanh nghiệp (ví dụ: MB, TPBank).
Cạnh tranh huy động vốn ngày càng khốc liệt khiến các ngân hàng gia tăng phụ thuộc vào nguồn vốn thị trường liên ngân hàng ngắn hạn. Áp lực thanh khoản sẽ tiếp tục khiến chi phí vốn neo cao và gây áp lực lên lợi nhuận, đặc biệt đối với các ngân hàng phụ thuộc nhiều vào nguồn vốn thị trường.
Ngân hàng tăng bộ đệm dự phòng nợ xấu
Nợ xấu tăng lên buộc các nhà băng tăng mạnh trích lập dự phòng để đảm bảo an toàn, thay vì ưu tiên lợi nhuận trong ngắn hạn.
Tăng trích dự phòng
Tổng chi phí dự phòng rủi ro tín dụng của 28 ngân hàng thương mại đã công bố báo cáo tài chính quý I/2026 lên tới 39.515 tỷ đồng, tăng 28% so với cùng kỳ.
Tổng giám đốc VPBank Nguyễn Đức Vinh cho hay, quý I/2026, Ngân hàng trích lập dự phòng khoảng 4.900 tỷ đồng. Tính tới cuối tháng 3/2026, tổng số dư nợ xấu của VPBank đạt 37.284 tỷ đồng, tăng 18,5% so với cuối năm 2025. Dù quy mô nợ xấu nằm trong nhóm lớn nhất hệ thống, tỷ lệ nợ xấu của Ngân hàng vẫn được kiểm soát và duy trì ổn định nhờ dư nợ tín dụng vượt mốc 1 triệu tỷ đồng.
Năm nay, VPBank đặt mục tiêu tỷ lệ nợ xấu dưới mức 2,5%; lợi nhuận trước thuế hợp nhất 41.323 tỷ đồng, tăng 35%. Trong đó, ngân hàng riêng lẻ đặt mục tiêu lợi nhuận 34.240 tỷ đồng, tăng 30%.
Quý đầu năm nay, Sacombank trích lập dự phòng hơn 22.082 tỷ đồng, tăng 109% so với cùng kỳ năm trước và đây cũng là ngân hàng có mức trích lập dự phòng rủi ro nợ xấu cao nhất trong hệ thống. Điều này khiến lợi nhuận của nhà băng giảm tới 42,7% so với cùng kỳ. Ông Phan Đình Tuệ, Thành viên Hội đồng quản trị Sacombank cho hay, trước mắt, Ngân hàng sẽ duy trì mức trích lập dự phòng cao, nhằm tuân thủ chiến lược quản trị rủi ro thận trọng và gia tăng nguồn lực đảm bảo an toàn tài chính và giúp Ngân hàng chủ động phòng vệ trước những biến động khó kiểm soát của thị trường. Bên cạnh việc tăng cường trích lập dự phòng, Sacombank cũng tập trung nâng cao chất lượng tài sản.
“Khi chất lượng tài sản được cải thiện tốt hơn, chúng tôi có thể tự tin giảm dần mức trích lập dự phòng. Khi đó, Ngân hàng sẽ lạc quan hơn về khả năng tăng trưởng lợi nhuận”, ông Tuệ nói.
Trong quý I/2026, Eximbank tăng chi phí dự phòng lên 319 tỷ đồng, gấp 2,5 lần cùng kỳ, khiến lợi nhuận trước thuế giảm tới 60%. Kế hoạch lợi nhuận trước thuế năm 2026 được Eximbank đưa ra tương đương năm trước (1.515 tỷ đồng) nhưng thấp hơn đáng kể so với kế hoạch từng công bố. Việc tăng trích lập dự phòng, theo lãnh đạo Eximbank, là bước đi cần thiết để củng cố nền tảng tài chính cho chiến lược phát triển dài hạn giai đoạn 2026 - 2030.
Trong khi đó, LPBank ghi nhận chi phí dự phòng tăng gần 4 lần so với cùng kỳ, lên 774 tỷ đồng, góp phần khiến lợi nhuận quý I giảm 11% so với cùng kỳ. OCB tăng dự phòng gần 67%, HDBank tăng dự phòng gần 39%, trong khi MB và VietABank cũng ghi nhận mức dự phòng tăng trên 30%. Tương tự, SHB tăng mạnh trích lập dự phòng lên 1.641 tỷ đồng, gần gấp đôi cùng kỳ năm trước... Xu hướng này cho thấy chiến lược điều hành của nhiều ngân hàng đang dịch chuyển từ ưu tiên tăng trưởng sang phòng thủ.
Củng cố an toàn hệ thống
Sỡ dĩ các nhà băng mạnh tay trích lập dự phòng rủi ro do áp lực nợ xấu đang quay trở lại sau một thời gian ổn định. Thống kê cho thấy, nợ xấu (nợ nhóm 3 - 5) của 28 ngân hàng đã tăng lên trong 3 tháng đầu năm. Tổng số dư nợ xấu của các ngân hàng đã tăng lên hơn 292.000 tỷ đồng, chiếm 1,99% trong tổng dư nợ cho vay, trong khi con số này tại thời điểm cuối năm 2025 là 1,85%.
Xét về quy mô tuyệt đối, BIDV hiện dẫn đầu toàn ngành về nợ xấu, với hơn 42.655 tỷ đồng, tăng gần 7.700 tỷ đồng trong 3 tháng đầu năm. Tiếp đến là Sacombank, với hơn 41.498 tỷ đồng; VPBank với hơn 37.284 tỷ đồng...
Tỷ lệ nợ xấu cũng tăng ở không ít ngân hàng. Trong đó, một số nhà băng có tỷ lệ nợ xấu vượt mức 3% như Eximbank (3,07%), BVBank (3,11%), Saigonbank (3,52%), VPBank (3,58%), PGBank (4,03%), Sacombank (6,62%). Ở chiều ngược lại, Vietinbank, VietABank, MSB, VIB, Nam A Bank có tỷ lệ nợ xấu giảm nhẹ từ 0,02 - 0,34% trong quý đầu năm nay.
Vietcombank tiếp tục là ngân hàng có chất lượng tài sản dẫn đầu hệ thống, với tỷ lệ nợ xấu thấp nhất (0,62%). Trong năm 2026, Ngân hàng đặt mục tiêu kiểm soát nợ xấu dưới 1,5%.
Giới phân tích tài chính cho rằng, diễn biến này xuất hiện trong bối cảnh doanh nghiệp và người dân chịu áp lực lớn về dòng tiền sau nhiều năm nền kinh tế liên tiếp đối mặt với các cú sốc, từ dịch bệnh, đứt gãy chuỗi cung ứng, biến động địa chính trị, lãi suất tăng và thị trường bất động sản suy giảm thanh khoản. Đồng thời, mặt bằng lãi suất tăng lên từ cuối năm 2025 đến nay khiến áp lực trả nợ gia tăng…
Ông Phan Đức Tú, Chủ tịch Hội đồng quản trị BIDV nhận định, trước tình hình chiến sự ở Trung Đông, ngành ngân hàng chịu tác động gián tiếp nhưng rất rõ ràng. Riêng BIDV có nhiều khách hàng thuộc các ngành vận tải, sản xuất, sử dụng nhiều năng lượng đều gặp khó khăn. Khi khách hàng khó khăn thì ngân hàng cũng bị ảnh hưởng.
Diễn biến nợ xấu tăng cho thấy, áp lực chất lượng tài sản đang bắt đầu hiện rõ hơn sau giai đoạn tín dụng tăng trưởng nhanh trong các năm trước, đặc biệt ở những lĩnh vực nhạy cảm với lãi suất và dòng tiền như bất động sản, xây dựng, tiêu dùng và trái phiếu doanh nghiệp.
Theo lãnh đạo Sacombank, các chính sách thuế đối ứng mới từ Mỹ đã ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất, xuất khẩu của doanh nghiệp Việt Nam, khiến nhiều khách hàng gặp khó khăn về dòng tiền và phát sinh nợ quá hạn. Mặc dù phần lớn các khoản nợ xấu tại Sacombank có tài sản bảo đảm, chủ yếu là bất động sản, song quá trình xử lý nợ xấu kéo dài do nhiều vướng mắc pháp lý liên quan đến tài sản bảo đảm và thủ tục xử lý… và phụ thuộc vào diễn biến của thị trường bất động sản. Không chỉ Sacombank, nhiều ngân hàng khác cũng đang phải đối diện với áp lực tương tự khi tín dụng bất động sản tăng mạnh trong các năm trước bắt đầu bước vào chu kỳ kiểm nghiệm chất lượng tài sản.
Chủ tịch ACB Trần Hùng Huy cho hay, lợi nhuận năm 2025 của Ngân hàng chỉ tương đương 85% kế hoạch không phải suy giảm mà là sự “tái phân bổ có chủ đích” nhằm củng cố “bộ đệm rủi ro” và chuẩn bị cho chu kỳ 2026. ACB sẽ không bị phân tán nguồn lực cho việc xử lý các rủi ro tồn đọng để có thể tập trung vào tăng trưởng. Thực tế, đầu năm 2026, các cơ quan quản lý đã có những động thái điều chỉnh chính sách theo hướng thận trọng hơn, đặc biệt với lĩnh vực bất động sản.
“Chúng tôi hài hòa giữa tăng trưởng và an toàn, hài hòa giữa lợi ích ngắn hạn và dài hạn, hài hòa giữa lợi ích của cổ đông - khách hàng. Chính sự hài hòa đó giúp kiểm soát rủi ro tốt, chất lượng tài sản ACB được đánh giá thuộc nhóm tốt trong ngành, với tỷ lệ nợ xấu khoảng 0,7%”, ông Huy nói và cho biết, chỉ tiêu tổng tài sản ACB đến cuối 2026 dự kiến tăng trưởng 16%, dư nợ tín dụng tăng 16%, huy động (bao gồm giấy tờ có giá) tăng 16%, tỷ lệ nợ xấu kiểm soát dưới 2%. Lợi nhuận trước thuế mục tiêu 22.338 tỷ đồng, tăng hơn 14% so kết quả đạt được trong 2025. Kết thúc quý I/2026, lợi nhuận trước thuế ACB ghi nhận 5.400 tỷ đồng, tăng 56% so với quý trước và tăng 17% so với cùng. Nợ xấu được kiểm soát dưới 1%.
Việc gia tăng dự phòng trong giai đoạn hiện nay không đơn thuần là phản ứng trước áp lực nợ xấu mà còn là sự chuẩn bị cho chu kỳ rủi ro mới của thị trường tín dụng. Tuy nhiên, trước bối cảnh thị trường 2026 có nhiều khó khăn, bất động sản và các kênh khác ảm đạm, còn áp lực lãi vay tăng khiến khả năng trả nợ giảm, MBS dự báo tỷ lệ trích lập dự phòng toàn ngành ngân hàng sẽ tiếp tục tăng trong thời gian tới, trong khi tỷ lệ bao phủ nợ xấu giảm, song dự kiến vẫn trên 80% trong năm 2026.
Ngân hàng “xoay trục” chiến lược
Khi biên lãi thuần (NIM) về vùng thấp và khó cải thiện trong ngắn hạn, cuộc đua lợi nhuận của ngành ngân hàng đang chuyển sang một giai đoạn mới: cạnh tranh bằng CASA, hệ sinh thái khách hàng và chất lượng tài sản.
NIM tạo đáy và phân hóa lớn
Sau một năm chịu áp lực co hẹp mạnh, NIM của ngành ngân hàng đang phát đi tín hiệu ổn định hơn trong quý I/2026. Tuy nhiên, đằng sau bức tranh hồi phục nhẹ về NIM của toàn ngành là sự phân hóa ngày càng rõ giữa các nhóm nhà băng, phản ánh sự thay đổi đáng kể trong cách tạo lợi nhuận của hệ thống ngân hàng.
Theo dữ liệu của Công ty Chứng khoán VNDirect, NIM quý I/2026 bình quân của nhóm ngân hàng niêm yết tăng nhẹ 0,01 điểm phần trăm so với quý IV/2025, sau khi giảm 0,11 điểm phần trăm trong quý trước đó và giảm tổng cộng 0,32 điểm phần trăm trong cả năm 2025. Dù mức cải thiện còn khá khiêm tốn, diễn biến này vẫn được thị trường chú ý, bởi NIM vốn là chỉ số phản ánh năng lực sinh lời cốt lõi của ngành ngân hàng.
Tuy nhiên, VNDirect lưu ý rằng, xét tương quan giữa chi phí huy động và lợi suất tài sản, mức tăng của chi phí huy động vẫn cao hơn, trong khi NIM cải thiện chủ yếu nhờ tăng trưởng tài sản giảm dần, giúp thu nhập lãi thuần bắt đầu bắt nhịp trở lại. “Với từng ngân hàng thì hơn một nửa các ngân hàng trong nhóm chúng tôi theo dõi ghi nhận NIM hồi phục tích cực hơn mặt bằng chung”, chuyên gia phân tích của VNDirect cho biết.
Nhóm chuyên gia phân tích VNDirect kỳ vọng NIM sẽ cải thiện trong các quý tiếp theo của năm 2026, dù đã điều chỉnh giảm khoảng 0,01 - 0,06 điểm phần trăm NIM mục tiêu của các ngân hàng sau động thái can thiệp vào mặt bằng lãi suất của Ngân hàng Nhà nước. Đáng chú ý, mặt bằng NIM hiện nay không còn phản ánh một xu hướng đồng đều toàn ngành, mà đang cho thấy khoảng cách lớn giữa các nhóm ngân hàng.
Dẫn đầu hệ thống tiếp tục là VPBank, nếu tính theo tốc độ sinh lời hiện tại quy đổi cho cả năm, NIM của VPBank đạt khoảng 5,37%, cao vượt trội so với phần còn lại. Theo sau là MBBank, với 3,82%; HDBank khoảng 3,79%; Techcombank khoảng 3,42% và MSB khoảng 3,31%. Đây chủ yếu là nhóm ngân hàng có thế mạnh về tín dụng bán lẻ, SME, CASA và hệ sinh thái khách hàng cá nhân. Những ngân hàng này vẫn duy trì được lợi suất tài sản sinh lãi ở mức cao, đồng thời kiểm soát chi phí vốn tương đối tốt. Đặc biệt, VPBank tiếp tục cho thấy mô hình “high-yield lending” (cho vay lãi suất cao) vẫn phát huy hiệu quả, dù đi kèm áp lực chi phí dự phòng lớn hơn.
Ở nhóm ngân hàng bán lẻ, HDBank, VIB hay ACB vẫn giữ được nền NIM tương đối tích cực. Điều này cho thấy tín dụng bán lẻ tiếp tục đóng vai trò “vùng đệm” lợi nhuận quan trọng trong bối cảnh dư địa mở rộng lãi suất cho vay không còn nhiều như trước. Tuy nhiên, mặt bằng NIM của nhóm bán lẻ hiện không còn ở vùng đỉnh của giai đoạn 2021 - 2022, phản ánh áp lực cạnh tranh lãi suất cho vay vẫn hiện hữu.
Trong khi đó, nhóm ngân hàng quốc doanh tiếp tục duy trì NIM thấp hơn đáng kể. Vietcombank đạt khoảng 2,88%, VietinBank khoảng 2,78%, còn BIDV ở mức khoảng 1,92%. Đặc điểm của nhóm này là tập trung nhiều hơn vào tín dụng doanh nghiệp lớn và các lĩnh vực ưu tiên, khiến biên lãi không cao. Tuy nhiên, đổi lại là chất lượng tài sản và chi phí vốn ổn định hơn. Trong nhóm Big4, Vietcombank tiếp tục cho thấy lợi thế vượt trội về CASA và khả năng tối ưu nguồn vốn.
Ở chiều ngược lại, nhóm ngân hàng quy mô nhỏ vẫn chịu áp lực đáng kể. VietBank chỉ ghi nhận NIM khoảng 1,65%, ABBank khoảng 1,73% và NamA Bank khoảng 2,08%. Diễn biến này phản ánh áp lực huy động vốn vẫn lớn đối với nhóm ngân hàng nhỏ, trong khi khả năng mở rộng tín dụng chất lượng cao còn hạn chế, khiến biên sinh lời tiếp tục bị bào mòn.
Sự phân hóa ngày càng lớn của NIM cho thấy khả năng kiếm tiền của các ngân hàng hiện không còn phụ thuộc đơn thuần vào tăng trưởng tín dụng, mà ngày càng gắn chặt với chất lượng cấu trúc nguồn vốn, cơ cấu tài sản sinh lãi và năng lực khai thác hệ sinh thái khách hàng.
Khi chênh lệch lãi suất không còn là “mỏ vàng”
Trong nhiều năm, tăng trưởng tín dụng và mở rộng NIM là động lực chính thúc đẩy lợi nhuận ngành ngân hàng. Nhưng bối cảnh hiện nay đang thay đổi nhanh chóng khi dư địa mở rộng chênh lệch lãi suất ngày càng hạn chế.
Tại đại hội cổ đông thường niên năm 2026, Tổng giám đốc MBBank Phạm Như Ánh cho rằng, việc gia tăng tổng tài sản và quy mô tín dụng chính là chiến lược nhanh nhất để gia tăng tổng lợi nhuận trong điều kiện NIM dự kiến sẽ tiếp tục thu hẹp. Theo ông Ánh, nguyên nhân khiến NIM thu hẹp trong năm 2026 là do chi phí đầu vào vẫn duy trì ở mức cao, trong khi lãi suất đầu ra không thể tăng mạnh nhằm chia sẻ khó khăn với doanh nghiệp.
Nhận định này phản ánh khá rõ thực tế hiện nay của ngành ngân hàng: biên lãi không còn dễ mở rộng như trước, buộc các nhà băng phải chuyển hướng sang tăng quy mô tài sản, tối ưu hiệu quả hoạt động và tìm kiếm thêm các nguồn thu ngoài lãi để duy trì tăng trưởng lợi nhuận.
Đây cũng là lý do nhiều ngân hàng thời gian gần đây đẩy mạnh bancassurance, thanh toán số, dịch vụ tài chính cá nhân và khai thác hệ sinh thái khách hàng, thay vì chỉ phụ thuộc vào tín dụng truyền thống. Tại VIB, Chủ tịch Đặng Khắc Vỹ cho biết, mặt bằng lãi suất huy động cao, trong khi lãi suất cho vay bán lẻ lại rất thấp đã gây áp lực trực tiếp lên NIM.
Để bù đắp sự hao hụt này, VIB đã đẩy mạnh thu nhập từ phí dịch vụ với mức tăng trưởng đều đặn từ 15 - 25%. Chiến lược của VIB phản ánh xu hướng ngày càng rõ trong ngành ngân hàng: khi dư địa mở rộng NIM bị thu hẹp, nguồn thu ngoài lãi đang trở thành “vùng đệm” quan trọng để bảo vệ lợi nhuận.
Trong khi đó, VPBank tiếp tục theo đuổi chiến lược tối ưu hóa danh mục sản phẩm và cơ cấu cho vay đa dạng để duy trì lợi thế về biên lãi. Tổng giám đốc VPBank Nguyễn Đức Vinh dự báo, mặt bằng lãi suất huy động sắp tới đi ngang và giảm dần sẽ giúp giảm bớt áp lực chi phí vốn. Trong quý I/2026, NIM trung bình của ngân hàng mẹ VPBank dao động trong khoảng 4,53 - 4,6% và dự kiến duy trì ổn định quanh mức 4,4% trong năm nay.
Dù lựa chọn chiến lược khác nhau, các ngân hàng đều đang cho thấy một xu hướng chung, tăng trưởng lợi nhuận giờ đây không còn phụ thuộc hoàn toàn vào khả năng mở rộng chênh lệch lãi suất như giai đoạn trước.
Cuộc đua CASA và chất lượng vốn
Nếu trước đây, tăng trưởng tín dụng được xem là thước đo quan trọng nhất phản ánh năng lực mở rộng của ngân hàng, thì hiện nay, CASA, chất lượng vốn và cấu trúc bảng cân đối đang trở thành những yếu tố quyết định khả năng duy trì hiệu quả sinh lời. Điều này lý giải vì sao nhiều ngân hàng liên tục đầu tư mạnh vào ngân hàng số, thanh toán, hệ sinh thái dịch vụ và các nền tảng giữ chân dòng tiền không kỳ hạn. Trong bối cảnh mặt bằng lãi suất huy động khó giảm thêm, dư địa cải thiện NIM thời gian tới được cho là sẽ đến từ tăng CASA, tối ưu cơ cấu tài sản sinh lãi và kiểm soát chi phí vốn, thay vì chỉ tăng lãi suất cho vay.
Ông Lê Hoài Ân, CFA cho rằng, giai đoạn này, tăng trưởng tín dụng cao chưa chắc đồng nghĩa với hiệu quả sinh lời tốt nếu NIM bị thu hẹp và chi phí vốn gia tăng. Vốn đang trở thành nền tảng cốt lõi giúp các ngân hàng có bảng cân đối lành mạnh và cơ cấu vốn hợp lý giảm thiểu tổn thương khi thanh khoản thu hẹp.
Nhận định này phản ánh sự thay đổi lớn trong cấu trúc cạnh tranh của ngành ngân hàng. Trong giai đoạn trước, nhiều ngân hàng có thể duy trì tăng trưởng lợi nhuận chủ yếu bằng cách mở rộng tín dụng nhanh và tận dụng chênh lệch lãi suất cao. Nhưng trong bối cảnh hiện nay, mô hình đó đang trở nên khó bền vững hơn.
NIM cao cũng không còn đồng nghĩa tuyệt đối với lợi nhuận cao nếu đi kèm với nợ xấu tăng nhanh. Ngược lại, những ngân hàng duy trì được chất lượng tài sản tốt, CASA cao và cấu trúc vốn ổn định vẫn có thể bảo vệ hiệu quả sinh lời dù NIM không quá cao. Sự phân hóa của ngành ngân hàng, vì thế, được dự báo sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới.
Những ngân hàng sở hữu lợi thế về CASA, nền tảng khách hàng mạnh, khả năng đa dạng hóa nguồn thu và năng lực quản trị rủi ro tốt sẽ có nhiều dư địa bảo vệ biên lợi nhuận hơn trong chu kỳ mới. Trong khi đó, các ngân hàng phụ thuộc nhiều vào huy động vốn chi phí cao, hoặc tăng trưởng tín dụng truyền thống có thể sẽ chịu áp lực lớn hơn khi biên lãi không còn động lực tăng trưởng dễ dàng như trước.
Nguồn: Tinnhanhchungkhoan.vn
FPT Retail (FRT) sắp phát hành hơn 8,5 triệu cổ phiếu trả cổ tức năm 2025
ĐHĐCĐ Chương Dương (CDC): Đặt mục tiêu lợi nhuận năm 2026 tăng trưởng 273%
Tập đoàn Cao su Việt Nam (GVR) lên kế hoạch lợi nhuận đi lùi, mở rộng khu công nghiệp trên đất cao su
Trung tâm Logistics Tân Cảng Lạch Huyện - mảnh ghép chiến lược hoàn thiện hệ sinh thái logistics cửa ngõ phía Bắc
VNDIRECT đặt mục tiêu lãi hơn 3.000 tỷ đồng năm 2026
PC1 báo lãi 269 tỷ đồng trong quý I, tăng 86% so với cùng kỳ
Năm 2026, SEAREFICO (SRF) đặt mục tiêu doanh số 2.300 tỷ đồng
CEN LAND (CRE) lập công ty phát triển dự án có vốn 2.000 tỷ đồng
Năm 2026, Tập đoàn Đầu tư Thăng Long (TIG) đặt mục tiêu lợi nhuận tăng trưởng hơn 140%
FPT báo lãi 3.787 tỷ đồng sau 4 tháng, tăng trưởng 17,5% so với cùng kỳ
Tân Tạo (ITA) lên kế hoạch lãi 230 tỷ đồng trong năm 2026
Xi măng Vicem Hà Tiên (HT1) lên kế hoạch lợi nhuận sau thuế 2026 hơn 400 tỷ đồng
Hòa Phát (HPG) khởi công Khu công nghiệp Hoàng Diệu, đón nhà đầu tư từ quý IV/2026
PV GAS khẳng định tầm vóc qua những đột phá khoa học công nghệ cho ngành công nghiệp khí Việt Nam

