Thứ sáu, 29-5-2026 - 22:38 GMT+7  Việt Nam EngLish 

Nhập khẩu ngô, đậu tương của Việt Nam giảm, nhập khẩu lúa mì tăng trong tháng 4/2026 

 Chủ nhật, 31-5-2026

AsemconnectVietnam - Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu ngô trong tháng 4/2026 đạt 817.654 tấn, tương đương 208,3 triệu USD, giá trung bình 254,77 USD/tấn, giảm 15,43% về lượng và giảm 14,11% kim ngạch so với tháng 3/2026.

Ngô
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu ngô trong tháng 4/2026 đạt 817.654 tấn, tương đương 208,3 triệu USD, giá trung bình 254,77 USD/tấn, giảm 15,43% về lượng và giảm 14,11% kim ngạch so với tháng 3/2026, nhưng giá tăng 1,57%; so với tháng 4/2025 giảm 6,24% về lượng, giảm 8,752% kim ngạch và giảm 2,68% về giá. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu ngô đạt 4,44 triệu tấn, tương đương 1,1 tỷ USD, giá trung bình 248,86 USD/tấn, tăng 48,03% về lượng và tăng 42,69% kim ngạch so với 4 tháng đầu năm 2025, nhưng giá giảm 3,61%.
Ngô nhập khẩu về Việt Nam nhiều nhất từ thị trường Brazil, trong tháng 4/2026 nhập khẩu đạt 80.105 tấn, tương đương 20,45 triệu USD, giá trung bình 255,32 USD/tấn, giảm 81,94% về lượng, giảm 81,39% kim ngạch nhưng giá tăng 3,07% so với tháng 3/2026. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu của Việt Nam từ Brazil đạt 2,257 triệu tấn, tương đương 556,8 triệu USD, giá trung bình 246,67 USD/tấn, tăng 125% về lượng và tăng 122,58% về kim ngạch, nhưng giảm 1,09% về giá so với 4 tháng đầu năm 2025, chiếm 50,79% trong tổng lượng và chiếm 50,34% trong tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước.
Achentina là thị trường lớn thứ 2 cung cấp ngô cho Việt Nam, trong tháng 4/2026 nhập khẩu đạt 486.143 tấn, tương đương 122,8 triệu USD, giá trung bình 252,6 USD/tấn, tăng 73,8% về lượng, tăng 74,34% kim ngạch so với tháng 2/2026 và tăng 0,31 về giá. Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu đạt 1,12 triệu tấn, tương đương 281,2 triệu USD, giá trung bình 250,94 USD/tấn, giảm 7,07% về lượng, giảm 10,1% kim ngạch và giá giảm 3,21 so với 4 tháng đầu năm 2025; chiếm 25,22% trong tổng lượng và chiếm 25,43% trong tổng kim ngạch nhập khẩu ngô của cả nước.
Tiếp theo, nhập khẩu ngô từ thị trường Ấn Độ trong tháng 4/2026 đạt 105.154 tấn, tương đương trên 26,2 triệu USD, giá 249,25 USD/tấn, tăng 26,32% về lượng, tăng 21,88% về kim ngạch và giá giảm 3,52% so với tháng 3/2026.

Nhập khẩu ngô 4 tháng đầu năm 2026
(Tính toán theo số liệu công bố ngày 10/5/2026 của CHQ)
Đậu tương
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu đậu tương trong tháng 4/2026 đạt 216.047 tấn, tương đương 104,3 triệu USD, giá trung bình 482,96 USD/tấn, giảm 30,93% về lượng, giảm 30,25% về kim ngạch, nhưng giá tăng 0,99% so với tháng 3/2026; so với tháng 4/2025 tăng cả về lượng, kim ngạch và giá, với mức tăng tương ứng 70,4%, 85,48% và 8,85%.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu đậu tương đạt 1,13 triệu tấn, tương đương 541,7 triệu USD, giá trung bình 477,1 USD/tấn, tăng 61,42% về lượng và tăng 70,3% kim ngạch và tăng 5,5% về giá so với 4 tháng đầu năm 2025.
Đậu tương nhập khẩu về Việt Nam nhiều nhất từ thị trường Hoa Kỳ, tháng 4/2026 nhập khẩu 50.769 tấn, tương đương 24,35 triệu USD, giá trung bình 479,63 USD/tấn, giảm 60,86% về lượng, giảm 60,9% kim ngạch và giá giảm 0,09% so với tháng 3/2026.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2026, nhập khẩu đạt 595,158 tấn, tương đương 282,4 triệu USD, giá trung bình 474,55 USD/tấn; chiếm 59,42% trong tổng lượng và chiếm 52,14% trong tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước,
Brazil là thị trường lớn thứ 2 cung cấp đậu tương cho Việt Nam trong tháng 4/2026. Tháng 4/2026 nhập khẩu 160.947 tấn đậu tương, tương đương 77,3 triệu USD, giá trung bình 480,33 USD/tấn; chiếm 38,63% trong tổng lượng và chiếm 38,9% trong tổng kim ngạch nhập khẩu đậu tương của cả nước,
Ngoài ra, Việt Nam còn nhập khẩu đậu tương từ thị trường Achentina, Canada và Campuchia.
Nhập khẩu đậu tương 4 tháng đầu năm 2026
(Tính toán theo số liệu công bố ngày 10/5/2026 của CHQ)
Lúa mì
Theo thống kê sơ bộ của Cục Hải quan, nhập khẩu lúa mì các loại trong tháng 4/2026 đạt 1,149 triệu tấn, tương đương 288,8 triệu USD, giá trung bình 251,23 USD/tấn, tăng 2,21% về lượng và 6,82% về kim ngạch, tăng 0,15% về giá nhưng giảm 2,01% so với tháng 3/2026. So với tháng 4/2025 thì tăng 48% về lượng, tăng 39,07% về kim ngạch nhưng giảm 6,04% về giá.
Tính chung 4 tháng đầu năm 2026 đạt 3,985 triệu tấn, trị giá 1,019 tỷ USD, giá trung bình 255,83 USD/tấn, tăng 65,69% về lượng, tăng 59,8% kim ngạch và giảm 3,55% về giá so với 4 tháng năm 2025.
Lúa mì nhập khẩu về Việt Nam nhiều nhất từ thị trường Australia, tháng 4/2026 nhập khẩu 111.883 tấn, tương đương 31,3 triệu USD, giá trung bình 279,71 USD/tấn, giảm 32,45% về lượng, giảm 33,25% kim ngạch và giá giảm 1,19% so với tháng 3/2026. So với tháng 4/2025, giảm 54,43% về lượng, giảm 51,9% về kim ngạch và tăng 5,56% về giá; chiếm 14,57% trong tổng lượng và chiếm 15,75% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước.
Brazil là thị trường lớn thứ 2 cung cấp lúa mì cho Việt Nam trong tháng 4/2026 nhập khẩu 61.733 tấn, tương đương 16 triệu USD, giá trung bình 259,12 USD/tấn, giảm 3,66% về lượng, giảm 3,47% kim ngạch nhưng tăng 0,2% về giá so với tháng 3/2026; so với tháng 4/2025 thì giảm 60,43% về lượng, giảm 60,3% về kim ngạch, nhưng tăng 0,33% về giá; chiếm 10,63% trong tổng lượng và chiếm 10,67% trong tổng kim ngạch nhập khẩu lúa mì của cả nước,
Ngoài ra, Việt Nam cũng nhập khẩu lúa mì từ thị trường Canada, Hoa Kỳ và Ukraine.
Nhập khẩu lúa mì 4 tháng đầu năm 2026
(Tính toán theo số liệu công bố ngày 10/5/2026 của CHQ)
Nguồn: VITIC
 

  PRINT     BACK

© Bộ Công Thương- Trung tâm Thông tin Công Nghiệp và Thương mại (VITIC)

Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 115/GP-TTĐT, cấp ngày 5/6/2024

Địa chỉ: Tòa nhà Bộ Công Thương, số 655 Phạm Văn Đồng, phường Nghĩa Đô, thành phố Hà Nội.

ĐT: (04)39341911; (04)38251312 và Fax: (04)38251312

Email: Asemconnectvietnam@gmail.com;

Ghi rõ nguồn "Asemconnectvietnam.gov.vn" khi đăng lại thông tin từ kênh thông tin này

Số lượt truy cập: 25743584116