Việt Nam nhập khẩu sắt thép 4 tháng đầu năm 2026: Giảm về lượng, tăng kim ngạch
Thứ bảy, 16-5-2026
AsemconnectVietnam - Theo số liệu tính toán từ Cục Hải quan Việt Nam, trong 4 tháng đầu năm 2026, Việt Nam nhập khẩu khoảng 5,04 triệu tấn sắt thép các loại với tổng kim ngạch đạt 3,61 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2025, lượng nhập khẩu giảm 1,45%, trong khi kim ngạch vẫn tăng nhẹ 0,15%. Nguyên nhân chủ yếu do giá thép nhập khẩu duy trì ở mức cao hơn cùng kỳ, khiến giá nhập khẩu bình quân tăng 1,63%, lên 716,28 USD/tấn. Bên cạnh đó, nhu cầu nhập khẩu trong nước chưa phục hồi đồng đều, trong khi nguồn cung từ một số thị trường lớn như Trung Quốc và Nhật Bản giảm mạnh cũng tác động đến tổng lượng nhập khẩu.
Riêng tháng 4/2026, Việt Nam nhập khẩu 1,42 triệu tấn sắt thép các loại, tăng 14,85% so với tháng 3/2026 và tăng 3,64% so với cùng kỳ năm 2025. Kim ngạch nhập khẩu đạt hơn 1 tỷ USD, tăng 13,08% so với tháng trước và tăng 4,69% so với cùng kỳ năm ngoái. Đà tăng này chủ yếu đến từ nhu cầu bổ sung nguyên liệu phục vụ hoạt động sản xuất và xây dựng trong nước khi thị trường bước vào giai đoạn cao điểm thi công, đồng thời doanh nghiệp đẩy mạnh nhập hàng trước những biến động của giá thép thế giới. Tuy nhiên, giá nhập khẩu bình quân trong tháng 4/2026 chỉ đạt 706,82 USD/tấn, giảm 1,54% so với tháng trước do nguồn cung thép từ khu vực châu Á gia tăng và cạnh tranh giá mạnh hơn giữa các thị trường xuất khẩu. Dù vậy, mức giá này vẫn cao hơn 1,01% so với cùng kỳ năm 2025, phản ánh mặt bằng giá thép thế giới vẫn neo ở mức tương đối cao.
Trung Quốc tiếp tục là thị trường cung cấp sắt thép lớn nhất cho Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 với 2,25 triệu tấn, trị giá 1,52 tỷ USD, chiếm 44,56% tổng lượng và gần 42% tổng kim ngạch nhập khẩu. Tuy nhiên, nhập khẩu từ thị trường này giảm mạnh 24,38% về lượng và giảm 19,08% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do doanh nghiệp trong nước tăng cường đa dạng hóa nguồn cung từ các thị trường khác như Ấn Độ và Indonesia nhằm giảm phụ thuộc vào thép Trung Quốc, đồng thời nhu cầu tiêu thụ thép trong nước phục hồi chưa đồng đều khiến lượng nhập khẩu từ thị trường này suy giảm đáng kể.
Sau Trung Quốc, Indonesia là thị trường cung cấp sắt thép lớn thứ hai cho Việt Nam với 579.261 tấn, kim ngạch 652,2 triệu USD, tăng lần lượt 29,76% và 26,77%. Đáng chú ý, dù sản lượng nhập khẩu thấp hơn Nhật Bản nhưng kim ngạch lại cao hơn đáng kể, cho thấy giá thép nhập khẩu từ Indonesia ở mức cao hơn hoặc cơ cấu mặt hàng có giá trị lớn hơn.
Nhật Bản đứng thứ ba với gần 646.980 tấn, trị giá 433,2 triệu USD, giảm 22,65% về lượng và giảm 18,17% về trị giá so với cùng kỳ năm trước, chiếm 12,83% tổng lượng và gần 12% tổng kim ngạch nhập khẩu sắt thép của cả nước. Sự sụt giảm này chủ yếu do nhu cầu trong nước phục hồi chậm, đồng thời doanh nghiệp tăng cường nhập khẩu từ các thị trường có giá cạnh tranh hơn.
Trong khi đó, Hàn Quốc cung cấp 524.876 tấn sắt thép cho Việt Nam, tăng 8,18% về lượng nhưng giảm nhẹ 1,28% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Điều này cho thấy giá nhập khẩu bình quân từ thị trường Hàn Quốc có xu hướng giảm trong bối cảnh cạnh tranh nguồn cung trong khu vực gia tăng.
Ấn Độ là thị trường ghi nhận mức tăng trưởng đột biến nhất trong nhóm cung cấp sắt thép cho Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026, với lượng nhập khẩu đạt hơn 601.479 tấn và kim ngạch đạt 308,1 triệu USD, tăng trên 12.000% về lượng và hơn 2.000% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Sự bứt phá này chủ yếu xuất phát từ việc doanh nghiệp Việt Nam gia tăng nhập khẩu thép từ Ấn Độ nhằm đa dạng hóa nguồn cung trong bối cảnh nhập khẩu từ Trung Quốc sụt giảm mạnh, đồng thời tận dụng mức giá cạnh tranh và nguồn cung ổn định từ thị trường Ấn Độ. Nhờ đó, thị phần thép nhập khẩu từ Ấn Độ tăng lên gần 12% tổng lượng nhập khẩu của cả nước, phản ánh xu hướng dịch chuyển rõ nét trong cơ cấu nguồn cung thép của Việt Nam.
Ngoài các thị trường chủ lực, một số quốc gia ghi nhận tốc độ tăng trưởng nhập khẩu sắt thép rất cao dù quy mô vẫn còn nhỏ, như Malaysia tăng 646,59% về lượng, Bỉ tăng 761,64%, Hà Lan tăng 860,45% và Đan Mạch tăng hơn 8.400% so với cùng kỳ năm trước. Mức tăng đột biến này chủ yếu do lượng nhập khẩu của cùng kỳ năm trước ở mức thấp, đồng thời doanh nghiệp trong nước mở rộng nguồn cung từ các thị trường mới để đa dạng hóa nhập khẩu và tận dụng giá cạnh tranh..
Ngược lại, nhập khẩu từ Australia giảm hơn 51%, Nam Phi giảm trên 93% và Canada giảm hơn 90%, phản ánh sự thu hẹp đáng kể từ các nguồn cung này.
Xét về cơ cấu thị trường, châu Á tiếp tục chiếm ưu thế tuyệt đối trong nhập khẩu sắt thép của Việt Nam. Riêng 6 thị trường lớn gồm Trung Quốc, Indonesia, Nhật Bản, Hàn Quốc, Ấn Độ và Đài Loan (Trung Quốc) đã chiếm khoảng 97,5% tổng lượng nhập khẩu cả nước. Điều này cho thấy nguồn cung thép của Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào khu vực châu Á, đặc biệt là các nước Đông Á và Nam Á.
Nhìn chung, hoạt động nhập khẩu sắt thép của Việt Nam trong 4 tháng đầu năm2026 cho thấy xu hướng đa dạng hóa nguồn cung ngày càng rõ nét khi lượng nhập khẩu từ Trung Quốc giảm mạnh, trong khi các thị trường như Indonesia và đặc biệt là Ấn Độ ghi nhận mức tăng trưởng cao. Dù sản lượng nhập khẩu giảm nhẹ so với cùng kỳ năm trước, kim ngạch vẫn duy trì ổn định nhờ giá nhập khẩu bình quân ở mức cao hơn, phản ánh mặt bằng giá thép thế giới chưa giảm sâu.
Nhập khẩu sắt thép các loại 4 tháng đầu năm 2026
(Tính toán theo số liệu công bố ngày 12/5/2026 của CHQ)
|
Thị trường
|
4Tháng/2026
|
Tăng giảm so với
4tháng/2025 (%)
|
Tỷ trọng (%)
|
|||
|
Lượng (tấn)
|
Trị giá (USD)
|
Lượng
|
Trị giá
|
Lượng
|
Trị giá
|
|
|
Tổng KNNK (USD)
|
5.043.655
|
3.612.681.082
|
-1,45
|
0,15
|
100
|
100
|
|
Trung Quốc (Đại lục)
|
2.247.340
|
1.515.685.982
|
-24,38
|
-19,08
|
44,56
|
41,95
|
|
Indonesia
|
579.261
|
652.236.031
|
29,76
|
26,77
|
11,48
|
18,05
|
|
Nhật Bản
|
646.980
|
433.231.125
|
-22,65
|
-18,17
|
12,83
|
11,99
|
|
Hàn Quốc
|
524.876
|
391.992.620
|
8,18
|
-1,28
|
10,41
|
10,85
|
|
Ấn Độ
|
601.479
|
308.124.682
|
12.083,09
|
2.034,47
|
11,93
|
8,53
|
|
Đài Loan (Trung Quốc)
|
318.302
|
201.058.721
|
7,88
|
1,27
|
6,31
|
5,57
|
|
Malaysia
|
60.235
|
35.039.005
|
646,59
|
363,57
|
1,19
|
0,97
|
|
Thái Lan
|
18.086
|
22.964.042
|
45,14
|
59,81
|
0,36
|
0,64
|
|
Đức
|
3.645
|
8.215.564
|
36,52
|
33,73
|
0,07
|
0,23
|
|
Thụy Điển
|
3.451
|
8.051.287
|
150,98
|
42,25
|
0,07
|
0,22
|
|
Pháp
|
1.042
|
5.211.511
|
369,37
|
12,55
|
0,02
|
0,14
|
|
Australia
|
11.777
|
4.875.091
|
-51,15
|
-53,51
|
0,23
|
0,13
|
|
Bỉ
|
8.625
|
4.481.850
|
761,64
|
505,59
|
0,17
|
0,12
|
|
Philippines
|
1.047
|
4.176.242
|
355,22
|
-9,55
|
0,02
|
0,12
|
|
Hoa Kỳ
|
1.371
|
4.018.532
|
31,7
|
-35,97
|
0,03
|
0,11
|
|
Phần Lan
|
1.721
|
1.547.580
|
363,88
|
11,06
|
0,03
|
0,04
|
|
Hà Lan
|
2.987
|
1.389.829
|
860,45
|
412,54
|
0,06
|
0,04
|
|
Áo
|
127
|
1.382.047
|
-16,45
|
126,75
|
0
|
0,04
|
|
Italy
|
763
|
1.290.375
|
92,68
|
25,75
|
0,02
|
0,04
|
|
Tây Ban Nha
|
947
|
1.128.911
|
-21,67
|
-46,83
|
0,02
|
0,03
|
|
Đan Mạch
|
1.535
|
769.715
|
8.427,78
|
1.694,04
|
0,03
|
0,02
|
|
Thổ Nhĩ Kỳ
|
306
|
641.525
|
29,66
|
82,44
|
0,01
|
0,02
|
|
Anh
|
1.046
|
547.086
|
-2,24
|
-32,3
|
0,02
|
0,02
|
|
Nam Phi
|
800
|
392.695
|
-93,12
|
-92,79
|
0,02
|
0,01
|
|
Canada
|
31
|
148.438
|
-90,03
|
-62,78
|
0
|
0
|
|
Brazil
|
63
|
125.401
|
110
|
244,42
|
0
|
0
|
|
Singapore
|
25
|
30.576
|
108,33
|
-13,02
|
0
|
0
|
Nguồn: Cục Hải quanViệt Nam
N.Hao
Nguồn: VITIC
Nguồn: VITIC
Việt Nam xuất khẩu thép 4 tháng đầu năm 2026 tăng sản lượng, giảm nhẹ kim ngạch do áp lực giá
Bộ Công Thương phê duyệt Kế hoạch tăng cường xúc tiến thương mại cho sản phẩm làng nghề
Xuất khẩu nông sản chuyển mạnh từ "lượng" sang "chất" làm nền tảng cạnh tranh
Cơ hội nào cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam năm 2026?
Xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 4 tháng tăng 5,4%
Cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính trong lĩnh vực xăng dầu
Kế hoạch triển khai thi hành Luật Thương mại điện tử
Bộ Công Thương ban hành văn bản hợp nhất về điều kiện lắp ráp, nhập khẩu ô tô
Các thị trường nhập khẩu xăng dầu và LNG của Việt Nam quý 1/2026
Tình hình xuất khẩu và nhập khẩu thủy sản Việt Nam quý 1/2026
Tình hình xuất khẩu và nhập khẩu máy vi tính, điện tử quý I/2026
Kim ngạch thương mại Việt Nam - Singapore tăng mạnh
Xuất khẩu hàng dệt may sang các thị trường 3 tháng đầu năm 2026
Nhập khẩu máy móc, thiết bị 3 tháng đầu năm 2026 trị giá gần 15,5 tỷ USD

