Thứ tư, 13-5-2026 - 18:4 GMT+7  Việt Nam EngLish 

Thị trường ngũ cốc thế giới tuần qua: Giá lúa mì, ngô và đậu tương biến động trái chiều do thời tiết và nhu cầu nhập khẩu 

 Thứ tư, 13-5-2026

AsemconnectVietnam - Giá lúa mì biến động trái chiều giữa các khu vực, trong khi thị trường đậu tương tương đối trầm lắng do kỳ nghỉ lễ tại Trung Quốc.

Giá lúa mì
Giá lúa mì châu Âu giảm khi hợp đồng tương lai Matif đi xuống sau giai đoạn tăng mạnh trước đó. Các chỉ báo kỹ thuật cho thấy thị trường đang ở trạng thái mua quá mức, khiến nhiều nhà giao dịch chốt lời.
Sự sụt giảm của hợp đồng tương lai kéo giá tiền mặt giảm nhẹ, trong khi phí bảo hiểm vật chất nhìn chung ổn định, cho thấy nhu cầu giao ngay không thay đổi nhiều. Phí bảo hiểm tại Pháp, Đức và khu vực Baltic chỉ biến động nhẹ, phản ánh việc người bán vẫn duy trì mức chênh lệch giá dù hợp đồng tương lai yếu hơn.
Các nguồn tin thị trường cho biết đợt điều chỉnh chủ yếu đến từ biến động hợp đồng tương lai chứ không phải nhu cầu thực tế. Người bán chỉ giảm giá chào theo giá tiền mặt, còn phí bảo hiểm vẫn được giữ nguyên.
Theo Fastmarkets, giá lúa mì 11% FOB Pháp giao tháng 6 ngày 7/5 đạt 232 USD/tấn, giảm 11,25 USD/tấn so với tuần trước. Giá lúa mì 12,5% FOB Baltic giao tháng 6 ở mức 239,25 USD/tấn, giảm 11 USD/tấn. Giá lúa mì 12,5% FOB Ba Lan giao tháng 6 đạt 239,75 USD/tấn, giảm 11 USD/tấn. Trong khi đó, giá lúa mì 12,5% FOB Đức giao tháng 6 ở mức 240,25 USD/tấn, giảm 10,5 USD/tấn so với tuần trước.
Trên thị trường giao ngay, cơ quan thu mua ngũ cốc nhà nước Algeria (OAIC) đã mua lúa mì 11,5% với giá 268-270 USD/tấn CFR cho lô hàng tháng 7, tổng khối lượng ít nhất 390.000 tấn. Mức giá này chỉ thấp hơn khoảng 2 USD/tấn so với đợt đấu thầu trước cho lô hàng tháng 6 kết thúc ngày 26/3.
Tại Úc, giá lúa mì duy trì ổn định do tình trạng khô hạn kéo dài tại New South Wales và Queensland. Dù có dự báo mưa, lượng mưa vẫn chưa đủ để cải thiện tâm lý thị trường. Tây Úc hiện là bang xuất khẩu chủ lực, góp phần hỗ trợ giá.
Fastmarkets cho biết giá lúa mì APW 10,5% FOB Tây Úc giao tháng 6 tăng 3 USD/tấn lên 277 USD/tấn. Giá lúa mì ASW 9,5% FOB Tây Úc cũng tăng 3 USD/tấn lên 272 USD/tấn.
Tại thị trường Biển Đen, giá lúa mì Nga nhìn chung ổn định với biên độ dao động hẹp. Ngược lại, giá tại Ukraine tăng nhờ các giao dịch gần đây với Indonesia ở mức tương đương 236-237 USD/tấn FOB. Thị trường cũng kỳ vọng các đơn hàng từ Algeria sẽ được chốt quanh mức giá này.
Fastmarkets đánh giá giá lúa mì 12,5% FOB Nga giao tháng 6 tăng 0,5 USD/tấn lên 241,5 USD/tấn, trong khi giá lúa mì 11,5% FOB Nga giữ nguyên ở mức 236 USD/tấn.
Giá lúa mì 11,5% FOB Ukraine giao tháng 6 tăng 2,5 USD/tấn lên 236 USD/tấn. Giá lúa mì thức ăn chăn nuôi FOB Ukraine tăng 1 USD/tấn lên 230 USD/tấn tại cụm cảng Pivdennyi-Odesa-Chornomorsk (POC).
Tại khu vực Biển Đen thuộc EU, giá lúa mì FOB CVB 11,5% giao tháng 6 giảm 5 USD/tấn xuống còn 237,75 USD/tấn. Giá lúa mì FOB Constanta/Varna/Burgas 12,5% giảm 1,75 USD/tấn xuống 242,75 USD/tấn, còn giá lúa mì thức ăn chăn nuôi giảm mạnh 10 USD/tấn xuống 229,75 USD/tấn.
Thị trường xuất khẩu lúa mì Mỹ nhìn chung ổn định trong tuần. Chênh lệch giá giữa lúa mì vùng Vịnh và vùng Tây Bắc Thái Bình Dương hầu như không thay đổi.
Giá lúa mì cứng đỏ mùa đông HRW 11% FOB vùng Vịnh Mỹ giữ ở mức cộng 1,30 USD/bushel so với hợp đồng tương lai HRW Kansas tháng 7. Giá lúa mì mềm đỏ mùa đông SRW 10,5% tại Vịnh Mexico cũng ổn định, với giá tháng 6 cao hơn 75 cent/bushel so với hợp đồng tương lai SRW tháng 7 tại Chicago và giá tháng 7 cao hơn 60 cent/bushel.
Tại vùng Tây Bắc Thái Bình Dương, giá lúa mì mềm trắng 10% giữ nguyên ở mức 246 USD/tấn cho tháng 6 và 244 USD/tấn cho tháng 7.
Theo USDA, lượng lúa mì xuất khẩu của Mỹ được kiểm tra trong tuần kết thúc ngày 30/4 đạt 434.204 tấn, tăng 17% so với tuần trước.
Tại Canada, giá lúa mì đỏ mùa xuân phía Tây 13,5% giao tại Vancouver ổn định, với cả tháng 6 và tháng 7 cao hơn 93 cent/bushel so với hợp đồng tương lai tháng 7 trên sàn MGEX.
Giá lúa mì cứng Canada không thay đổi, với lô hàng 14,5% giao tại Vancouver ở mức 280 USD/tấn và tại St. Lawrence ở mức 295 USD/tấn.
Tại Argentina, giá lúa mì tiếp tục tăng trong tuần. Giá lúa mì FOB Argentina 11,5% giao tháng 6 tại khu vực Up River tăng lên 240 USD/tấn. Giá lúa mì vụ mới giao tháng 12 cũng tăng thêm 3-5 USD/tấn so với tuần trước, cùng với hoạt động chào mua và chào bán sôi động hơn
Giá ngô
Giá ngô giao ngay và giá ngô giao dịch trực tiếp giảm tại Argentina, trong khi thị trường Brazil và Mỹ diễn biến trái chiều. Hợp đồng tương lai ngô trên sàn CME chủ yếu giảm trong tuần do chịu tác động từ biến động giá dầu thô và sự không chắc chắn xoay quanh khả năng Mỹ và Iran đạt được thỏa thuận nhằm chấm dứt xung đột và mở lại eo biển Hormuz.
Trong 5 ngày tính đến 8/5, hợp đồng ngô kỳ hạn tháng 7 trên CME giảm 0,53% xuống còn 4,71 USD/bushel, ghi nhận bốn phiên giảm liên tiếp dù nhu cầu đối với ngô Mỹ vẫn ở mức cao.
Trong tuần, kỳ vọng Mỹ và Iran có thể sớm đạt thỏa thuận đã gây áp lực lên giá dầu, kéo theo việc các quỹ đầu tư thanh lý vị thế mua trên thị trường ngô CME.
Tại Mỹ, giá giao ngay và giá ngô giao dịch trực tiếp phần lớn giảm. Giá ngô FOB vùng Vịnh Mỹ giao tháng 6 giảm còn 93 cent/bushel ngày 7/5, so với 96 cent/bushel ngày 30/4, tính theo hợp đồng tương lai CME tháng 7.
Trong khi đó, chênh lệch giá giữa ngô FOB khu vực Tây Bắc Thái Bình Dương (PNW) giao tháng 7 và giá giao ngay tăng thêm 5 cent/bushel lên 120 cent/bushel so với hợp đồng tương lai CME tháng 7.
Giá giao ngay tiếp tục suy yếu, với giá ngô giao tháng 6 tại vùng Vịnh giảm còn 220,75 USD/tấn so với 224,5 USD/tấn của tuần trước. Giá ngô PNW giao cùng kỳ cũng giảm còn 231,25 USD/tấn từ mức 232 USD/tấn.
Tuần qua, các nhà nhập khẩu thức ăn chăn nuôi Hàn Quốc gồm Feed Leaders Committee (FLC) và Nonghyup Feed Inc (NOFI) đã quay lại thị trường mua ngô. FLC mua khoảng 132.000 tấn giao tháng 8-9, còn NOFI mua khoảng 136.000 tấn giao tháng 9.
FLC trả 268,30 USD/tấn CFR Hàn Quốc cho lô đầu tiên gồm 65.000 tấn, cộng thêm 1,25 USD/tấn chi phí dỡ hàng tại cảng Sucden. Lô thứ hai gồm 67.000 tấn được định giá một phần ở mức 267,89 USD/tấn CFR và phần còn lại cao hơn 215,50 cent/bushel so với hợp đồng tương lai ngô CME tháng 7, cộng thêm 1,50 USD/tấn chi phí dỡ hàng.
NOFI cũng mua hai lô hàng. Lô đầu tiên 68.000 tấn do Mitsui bán, được định giá một phần ở mức 269,94 USD/tấn CFR và phần còn lại cao hơn 213,68 cent/bushel so với hợp đồng tương lai CME tháng 9, cộng thêm 1,75 USD/tấn chi phí dỡ hàng.
Lô thứ hai do Cargill bán, giao khoảng ngày 10/9. Trong đó, 48.000 tấn được chốt giá ở mức 269,88 USD/tấn CFR, phần còn lại được bán với mức cộng 211,78 cent/bushel so với hợp đồng tương lai CME tháng 9, cộng thêm 1,50 USD/tấn chi phí dỡ hàng tại cảng.
Tại Nam Mỹ, giá ngô Argentina tiếp tục giảm, trong khi thị trường Brazil biến động trái chiều giữa cảng Santos và khu vực Northern Arc. Giá ngô FOB Argentina giao tháng 6 giảm còn 68 cent/bushel ngày 7/5, từ mức 74 cent/bushel ngày 30/4. Giá tính theo USD cũng giảm còn 210 USD/tấn so với 215,75 USD/tấn tuần trước.
Xuất khẩu ngô của Argentina vẫn duy trì mạnh. Theo Sàn giao dịch ngũ cốc Rosario (BCR), tổng lượng ngô xuất khẩu trong hai tháng đầu niên vụ, gồm tháng 3 và tháng 4, đạt 9,76 triệu tấn, tăng 45% so với cùng kỳ năm trước khi đạt 6,7 triệu tấn.
Việt Nam là khách hàng nhập khẩu ngô lớn nhất của Argentina với 17% thị phần, tiếp theo là Ai Cập chiếm 16% và Algeria chiếm 13%.
Tại Brazil, giá ngô FOB Santos giao tháng 7 tăng lên 104 cent/bushel từ mức 102 cent/bushel của tuần trước. Tuy nhiên, giá tính theo USD lại giảm xuống 225 USD/tấn từ 227 USD/tấn.
Ở khu vực Northern Arc, giá ngô FOB giao tháng 7 giảm xuống 104 cent/bushel từ 105 cent/bushel. Giá theo USD cũng giảm còn 225 USD/tấn so với 228,75 USD/tấn tuần trước.
Brazil sắp bước vào giai đoạn xuất khẩu cao điểm từ tháng 7, trong khi thị trường đang tập trung theo dõi vụ ngô safrinha. Thời tiết khô hạn làm gia tăng lo ngại về năng suất và nhiều tổ chức phân tích tư nhân đã hạ dự báo sản lượng vụ mùa này.
Sau khi thị trường phản ứng tích cực với tuyên bố của Tổng thống Brazil Luiz Inácio Lula da Silva về kế hoạch nâng tỷ lệ ethanol pha trong xăng từ 30% lên 32%, Hội đồng Chính sách Năng lượng Quốc gia Brazil (CNPE) đã hoãn vô thời hạn cuộc họp dự kiến diễn ra ngày 7/5 và sau đó là 11/5 để thảo luận vấn đề này.
Giá đậu tương
Thị trường giao ngay đậu tương nhìn chung khá trầm lắng trong kỳ nghỉ lễ Lao động kéo dài tại Trung Quốc, kết thúc ngày 5/5. Tổng cộng có ít nhất 19 lô hàng được giao dịch, giảm so với 22 lô của tuần trước.
Giá hợp đồng tương lai trên sàn CME biến động mạnh trong tuần. Thị trường tăng mạnh vào đầu tuần nhưng sau đó giảm trở lại trong các phiên tiếp theo. Giá đậu tương CFR Trung Quốc nhìn chung ổn định, trong khi giá giao ngay có xu hướng giảm nhẹ vào cuối tuần.
Tại Brazil, giá đậu tương FOB biến động mạnh theo diễn biến của hợp đồng tương lai CME. Giá tăng vọt vào thứ Hai rồi giảm dần trong các phiên sau đó.
Hoạt động mua hàng tiếp tục tập trung tại Brazil, chủ yếu cho các lô hàng giao từ tháng 6 đến tháng 8. Các lô giao tháng 6 được giao dịch ở mức cộng 1,55-1,59 USD/bushel so với hợp đồng tương lai CME tháng 7, trong khi lô tháng 7 ở mức cộng 1,61-1,74 USD/bushel. Hai lô hàng giao tháng 8 được giao dịch ở mức cộng 1,90 USD/bushel so với hợp đồng tương lai CME tháng 7.
Ngoài ra, thị trường cũng ghi nhận một số giao dịch đậu nành vụ mới giao từ tháng 2 đến tháng 4/2027. Riêng các lô giao tháng 3/2027 được giao dịch ở mức cộng 1,03-1,05 USD/bushel so với hợp đồng tương lai CME tháng 3.
Theo Fastmarkets, chênh lệch giá đậu tương CFR Trung Quốc giao tháng 6 được đánh giá ở mức cộng 1,55 USD/bushel so với hợp đồng tương lai CME tháng 7 vào ngày 8/5, tăng nhẹ 1 cent/bushel so với tuần trước. Tuy nhiên, giá tính theo USD/tấn giảm xuống còn 494,75 USD/tấn từ mức 497,75 USD/tấn của tuần trước.
Đối với thị trường Brazil, chênh lệch giá đậu tương FOB Paranagua giao tháng 6 tăng lên mức cộng 0,32 USD/bushel so với hợp đồng tương lai tháng 7 vào ngày 7/5, cao hơn mức cộng 0,27 USD/bushel của tuần trước. Dù vậy, giá giao ngay nhìn chung vẫn ổn định quanh mức 449,50 USD/tấn.
Tại Trung Quốc, vào thứ Sáu đã xuất hiện khối lượng giao dịch lớn đối với bột đậu nành trên thị trường tiền mặt. Phần lớn khối lượng được cam kết cho vụ mùa mới sau khi sàn DCE bắt đầu giao dịch hợp đồng tương lai tháng 5/2027.
Trong khi đó, phí bảo hiểm dầu đậu nành Argentina tiếp tục giảm trong tuần và xuống mức thấp nhất kể từ khi Fastmarkets bắt đầu theo dõi thị trường vào năm 2018. Mức chiết khấu hiện tương đương khoảng âm 22 cent/lb so với hợp đồng tương lai CME ở kỳ hạn gần, tương đương vùng đáy từng ghi nhận vào giữa năm 2023.
Mức giá thấp này được cho là có thể tạo cơ hội kinh doanh chênh lệch giá, thúc đẩy xuất khẩu dầu đậu nành Argentina sang Mỹ trong mùa hè năm nay tại Bắc bán cầu.
N.Hao
Nguồn: VITIC/Fastmarkets


 

  PRINT     BACK

© Bộ Công Thương- Trung tâm Thông tin Công Nghiệp và Thương mại (VITIC)

Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 115/GP-TTĐT, cấp ngày 5/6/2024

Địa chỉ: Tòa nhà Bộ Công Thương, số 655 Phạm Văn Đồng, phường Nghĩa Đô, thành phố Hà Nội.

ĐT: (04)39341911; (04)38251312 và Fax: (04)38251312

Email: Asemconnectvietnam@gmail.com;

Ghi rõ nguồn "Asemconnectvietnam.gov.vn" khi đăng lại thông tin từ kênh thông tin này

Số lượt truy cập: 25743584116