Thứ tư, 6-5-2026 - 16:51 GMT+7  Việt Nam EngLish 

Một số chỉ số kinh tế của Việt Nam tháng 4/2026 

 Thứ sáu, 8-5-2026

AsemconnectVietnam - Trong tháng 4 năm 2026, một số chỉ số kinh tế của Việt Nam ghi nhận sự tăng trưởng, bao gồm sản lượng công nghiệp, lạm phát, thâm hụt thương mại, FDI, doanh số bán lẻ và lượng khách du lịch.

Trong khi đó, chỉ số PMI ngành sản xuất giảm.
Sản lượng công nghiệp Việt Nam tăng trong tháng 4/2026
Sản lượng công nghiệp của Việt Nam trong tháng 4/2026 tăng 9,9% so với cùng kỳ năm ngoái, tăng tốc so với mức tăng trưởng 7,2% trong tháng 3/2026 và đánh dấu tốc độ tăng trưởng nhanh nhất kể từ tháng 1/2026.
Sản lượng tăng nhanh ở hầu hết các lĩnh vực, dẫn đầu là khai thác mỏ và đá (7,6% so với 2,1% trong tháng 3), sản xuất (10,0% so với 7,9%) và cung cấp điện khí (10,9% so với 4,6%).
Ngược lại, tăng trưởng trong lĩnh vực cấp nước, quản lý chất thải và xử lý nước thải giảm (7,1% so với 11,2%).
Tính theo tháng, sản lượng công nghiệp tăng 3,0%. Trong 4 tháng đầu năm, sản xuất công nghiệp tăng 9,2% so với cùng kỳ năm 2025.
Chỉ số PMI sản xuất của Việt Nam giảm trong tháng 4/2026
Chỉ số PMI sản xuất của Việt Nam do S&P Global công bố đã giảm xuống 50,5 trong tháng 4/2026 từ mức 51,2 trong tháng 3/2026, đánh dấu mức thấp nhất kể từ tháng 9/2025.
Sản lượng tiếp tục tăng trưởng trong tháng thứ 12 liên tiếp, nhưng tốc độ tăng trưởng chậm lại ở mức thấp nhất kể từ tháng 6/2025. Hơn nữa, đơn đặt hàng mới giảm lần đầu tiên sau 8 tháng, doanh số xuất khẩu mới giảm mạnh hơn do chi phí vận chuyển tăng cao ảnh hưởng đến doanh số bán hàng quốc tế.
Nhu cầu yếu chủ yếu là do áp lực lạm phát gia tăng, chủ yếu do giá nhiên liệu và dầu mỏ tăng cao, sự gián đoạn chuỗi cung ứng kéo dài và sự bất ổn thị trường gia tăng liên quan đến xung đột Trung Đông.
Giá nguyên liệu đầu vào tăng với tốc độ nhanh nhất trong 15 năm, trong khi chi phí đầu ra tăng nhanh nhất kể từ tháng 4 năm 2011. Tâm lý doanh nghiệp giảm xuống mức thấp nhất trong 7 tháng và thấp hơn mức trung bình dài hạn, khi các doanh nghiệp bày tỏ mối lo ngại ngày càng tăng về những hậu quả kinh tế từ sự bất ổn địa chính trị.
Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam tăng
Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) giải ngân tại Việt Nam tăng 9,8% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 7,4 tỷ USD trong 4 tháng đầu năm 2026, đánh dấu mức FDI cao nhất trong 4 tháng đầu năm trong 5 năm qua.
Ngành chế biến và sản xuất đạt 6,12 tỷ USD, chiếm 82,7% tổng FDI, tiếp theo là hoạt động bất động sản với 540,5 triệu USD (7,3%), và sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 270,6 triệu USD (3,7%). FDI mới đăng ký đạt 12,15 tỷ USD với 1.249 dự án, tăng 3,7% về số lượng dự án và gấp 2,2 lần về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm ngoái.
Ngành sản xuất dẫn đầu với 66,8% vốn mới, tiếp theo là ngành dịch vụ công cộng (19,0%) và các ngành khác (14,2%). Xét theo quốc gia, Singapore dẫn đầu với 6,05 tỷ USD (49,8% tổng vốn đăng ký mới), tiếp theo là Hàn Quốc (33,6%) và Trung Quốc (4,3%).
Việt Nam ghi nhận thâm hụt thương mại lớn nhất trong tháng 4
Việt Nam ghi nhận thâm hụt thương mại 3,28 tỷ USD trong tháng 4/2026, từ mức thặng dư 0,9 tỷ USD trong cùng kỳ năm 2025.
Đây là mức thâm hụt thương mại lớn nhất kể từ tháng 12/1996, do nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu.
Xuất khẩu tăng 21% so với cùng kỳ năm trước lên 45,52 tỷ USD, trong khi nhập khẩu tăng nhanh hơn ở mức 32,5% lên mức cao kỷ lục 48,8 tỷ USD. Trong 4 tháng đầu năm, cả nước ghi nhận thâm hụt thương mại 7,11 tỷ USD, xuất khẩu tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước lên 168,53 tỷ USD và nhập khẩu tăng 28,7% lên 175,64 tỷ USD.
Trong giai đoạn này, xuất khẩu hàng hóa công nghiệp chế biến ước tính đạt 151,5 tỷ USD, chiếm 89,9% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất, với giá trị ước tính đạt 53,9 tỷ USD. Trong khi đó, nguyên liệu sản xuất ước tính đạt 165,37 tỷ USD, chiếm 94,2% tổng kim ngạch nhập khẩu. Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất.
Tỷ lệ lạm phát của Việt Nam đạt mức cao nhất kể từ năm 2020
Tỷ lệ lạm phát hàng năm của Việt Nam tăng tốc lên 5,46% trong tháng 4/2026 từ mức 4,65% trong tháng 3, đánh dấu mức cao nhất kể từ tháng 1/2020, do giá khí đốt trong nước tăng cao theo giá dầu toàn cầu.
Áp lực tăng giá lan rộng trên hầu hết các mặt hàng, bao gồm thực phẩm (5,2% so với 4,72% trong tháng 3); đồ uống và thuốc lá (4,21% so với 3,44%); quần áo, mũ và giày dép (2,29% so với 1,82%); giá nhà ở, điện, nước, nhiên liệu và vật liệu xây dựng (7,95% so với 5,88%); đồ dùng và vật tư gia dụng (3,14% so với 2,44%); y tế (1,11% so với 1,00%); vận tải (11,08% so với 10,81%); giáo dục (3,37% so với 3,30%); văn hóa, giải trí và du lịch (2,71% so với 2,07%); và các hàng hóa và dịch vụ khác (4,52% so với 4,01%).
Trong khi đó, chi phí liên lạc tăng trở lại (0,24% so với -0,07%). Lạm phát lõi tăng lên 4,66% trong tháng 4, đánh dấu tốc độ nhanh nhất kể từ tháng 3/2023. Trên cơ sở hàng tháng, CPI tăng 0,84%, giảm so với mức tăng 1,23% trong tháng 3.
Doanh số bán lẻ của Việt Nam tăng
Doanh số bán lẻ tại Việt Nam tăng 12,1% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng 4 năm 2026, tương đương với tốc độ tăng trưởng của tháng 3 và duy trì mức tăng trưởng mạnh nhất kể từ tháng 3/2023.
Sự tăng trưởng diễn ra trên diện rộng ở tất cả các thành phần: hàng hóa bán lẻ giảm nhẹ (12,2% so với 12,4% trong tháng 3), dịch vụ lưu trú và ăn uống tăng tốc (14,1% so với 13,9%), các hoạt động liên quan đến du lịch vẫn ổn định dù có phần giảm tốc (6,5% so với 11,5%), và các dịch vụ khác tăng lên (9,4% so với 7,6%). Trong 4 tháng đầu năm, thương mại bán lẻ tăng 11,1% so với cùng kỳ năm 2025.
Lượng khách du lịch quốc tế đến Việt Nam tăng
Lượng khách quốc tế đến Việt Nam tăng mạnh 22,8% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 2,03 triệu lượt trong tháng 4 năm 2026, tăng mạnh so với mức tăng 1,3% của tháng trước.
Lượng khách du lịch từ châu Á tăng 17,8%, được hỗ trợ bởi sự tăng mạnh từ Trung Quốc (22,1%), Nhật Bản (18,3%), Đài Loan (7,0%), Malaysia (22,7%), Thái Lan (13,5%) và Singapore (28,6%). Lượng khách đến từ Mỹ tăng 27,8%, trong khi lượng khách từ châu Âu tăng mạnh 46,1%, dẫn đầu là Nga (228,2%), cùng với sự tăng trưởng từ Anh (6,1%), Pháp (9,2%) và Đức (7,1%).
Lượng khách đến từ Úc tăng 23,1%, và lượng khách từ châu Phi tăng nhẹ 6,0%. Trong bốn tháng đầu năm, lượng khách quốc tế tăng 14,6% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 8,79 triệu lượt.
Nguồn: VITIC/tradingeconomics.com

  PRINT     BACK

© Bộ Công Thương- Trung tâm Thông tin Công Nghiệp và Thương mại (VITIC)

Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 115/GP-TTĐT, cấp ngày 5/6/2024

Địa chỉ: Tòa nhà Bộ Công Thương, số 655 Phạm Văn Đồng, phường Nghĩa Đô, thành phố Hà Nội.

ĐT: (04)39341911; (04)38251312 và Fax: (04)38251312

Email: Asemconnectvietnam@gmail.com;

Ghi rõ nguồn "Asemconnectvietnam.gov.vn" khi đăng lại thông tin từ kênh thông tin này

Số lượt truy cập: 25743584116