Thị trường nông sản thế giới ngày 12/3: Giá đường giảm nhẹ, ngô tăng mạnh
Thứ năm, 12-3-2026
AsemconnectVietnam - Chốt phiên giao dịch ngày 11/3, thị trường nông sản thế giới ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các mặt hàng chủ lực. Trong khi giá đường và cà phê giảm do áp lực nguồn cung, thì lúa mì, ngô và đậu tương lại tăng nhờ các yếu tố cung – cầu và chi phí sản xuất.
Giá đường thô kỳ hạn tại Mỹ tiếp tục giảm nhẹ, giao dịch dưới mức 14,3 cent/pound và rời xa đỉnh cao nhất trong khoảng một tháng đạt được vào đầu tuần. Nguyên nhân chủ yếu đến từ nguồn cung toàn cầu vẫn dồi dào trong niên vụ 2025–2026, khi sản lượng tại Brazil duy trì ở mức cao. Tuy nhiên, một số tổ chức phân tích nhận định khoảng cách cung – cầu đang dần thu hẹp. Công ty môi giới StoneX đã hạ dự báo dư cung đường toàn cầu xuống còn khoảng 870.000 tấn, thấp hơn nhiều so với mức 2,9 triệu tấn ước tính trước đó, chủ yếu do sản lượng giảm tại một số quốc gia và điều chỉnh cơ cấu sản xuất ở Brazil. Diễn biến này có thể hỗ trợ giá đường trong trung hạn.
Trên sàn CBOT, giá lúa mì kỳ hạn tăng nhẹ khi nhà đầu tư điều chỉnh vị thế sau phiên chốt lời trước đó. Hợp đồng lúa mì mềm đỏ mùa đông giao tháng 5 tăng 3,75 cent, lên 5,9475 USD/bushel. Động lực tăng chủ yếu đến từ lo ngại về tình trạng khô hạn tại một số vùng sản xuất lớn của Mỹ, có thể ảnh hưởng đến năng suất vụ mùa đông. Ngoài ra, dòng vốn đầu tư quay trở lại thị trường cũng giúp giá lúa mì duy trì đà tăng trong biên độ hẹp.
Giá ngô ghi nhận mức tăng khá mạnh trong phiên giao dịch, với hợp đồng tháng 5 tăng 8 cent lên 4,6025 USD/bushel. Thị trường tập trung vào yếu tố chi phí đầu vào nông nghiệp tăng, đặc biệt là giá nhiên liệu và phân bón, khiến chi phí sản xuất cao hơn. Điều này làm dấy lên khả năng nông dân Mỹ điều chỉnh cơ cấu cây trồng trong vụ xuân, qua đó hỗ trợ giá ngô. Bên cạnh đó, nhu cầu sử dụng ngô làm nguyên liệu sản xuất ethanol tiếp tục là yếu tố quan trọng thúc đẩy giá mặt hàng này.
Đối với đậu tương, giá tiếp tục tăng trong phiên thứ hai liên tiếp. Hợp đồng đậu tương giao tháng 5 tăng 12,25 cent, chốt ở mức 12,14 USD/bushel. Đà tăng chủ yếu đến từ việc biên lợi nhuận chế biến đậu tương cải thiện, khuyến khích các nhà máy tăng cường thu mua nguyên liệu. Ngoài ra, thị trường cũng kỳ vọng nhu cầu nhập khẩu từ các quốc gia tiêu thụ lớn sẽ duy trì ổn định trong thời gian tới.
Trong khi đó, thị trường cà phê lại ghi nhận mức giảm mạnh trên cả hai sàn giao dịch lớn. Trên sàn London, cà phê robusta giao tháng 5/2026 giảm 3,75% xuống còn 3.553 USD/tấn, còn hợp đồng tháng 7/2026 giảm 3,61% xuống 3.466 USD/tấn. Tại sàn New York, cà phê arabica giao tháng 5/2026 giảm 2,83% xuống 287,4 cent/pound, còn hợp đồng tháng 7 giảm 2,71% xuống 282,2 cent/pound. Nguyên nhân chủ yếu do triển vọng sản lượng tăng tại Brazil – quốc gia sản xuất cà phê lớn nhất thế giới. Lượng mưa cải thiện tại các vùng trồng cà phê gần đây làm gia tăng kỳ vọng về một vụ mùa thuận lợi. Bên cạnh đó, tồn kho cà phê trên sàn ICE tăng lên mức cao nhất trong nhiều tháng cũng tạo áp lực lên giá trong ngắn hạn. Các tổ chức phân tích dự báo sản lượng cà phê toàn cầu niên vụ tới có thể đạt khoảng 180 triệu bao, tăng đáng kể so với niên vụ trước và có khả năng khiến thị trường chuyển sang trạng thái dư cung nhẹ.
Đối với thị trường hồ tiêu, theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu thế giới ghi nhận diễn biến trái chiều giữa các quốc gia xuất khẩu lớn. Giá tiêu đen xuất khẩu của Indonesia tăng nhẹ thêm 5 USD/tấn lên 7.042 USD/tấn. Trong khi đó, giá tiêu đen xuất khẩu của Việt Nam giảm 100 USD/tấn, hiện dao động trong khoảng 6.300 – 6.400 USD/tấn đối với các loại 500 g/l và 550 g/l.
Tại Brazil, giá tiêu đen loại ASTA 570 giữ ổn định ở mức 6.100 USD/tấn. Trong khi đó, Malaysia tiếp tục duy trì mức giá cao, khoảng 9.100 USD/tấn. Đối với tiêu trắng, giá tiêu trắng Muntok của Indonesia tăng nhẹ thêm 6 USD/tấn lên 9.323 USD/tấn, còn giá tiêu trắng xuất khẩu của Việt Nam giảm 100 USD/tấn xuống khoảng 9.050 USD/tấn. Riêng Malaysia vẫn giữ mức giá cao nhất thị trường với tiêu trắng xuất khẩu ở khoảng 12.100 USD/tấn.
N.Hao
Nguồn: VITIC

