Thứ tư, 4-3-2026 - 11:59 GMT+7  Việt Nam EngLish 

Thị trường nông sản thế giới ngày 4/3: Lúa mì và ca cao giảm, ngô và đậu tương tăng nhẹ 

 Thứ tư, 4-3-2026

AsemconnectVietnam - Kết thúc phiên giao dịch ngày 4/3, thị trường nông sản thế giới diễn biến trái chiều. Lúa mì và ca cao chịu áp lực điều chỉnh, trong khi ngô, đậu tương và đường ghi nhận mức tăng nhẹ. Cà phê quay đầu giảm sau nhịp phục hồi ngắn hạn.

Đường tăng theo giá năng lượng
Giá đường kỳ hạn tại Mỹ tăng lên gần 14 cent/pound, mức cao nhất trong gần một tuần, trong bối cảnh giá năng lượng đi lên trên thị trường quốc tế.
Giá năng lượng cao hơn làm gia tăng sức hấp dẫn của sản xuất ethanol, thúc đẩy các nhà máy mía đường điều chỉnh cơ cấu sản xuất theo hướng tăng tỷ trọng nhiên liệu sinh học. Điều này có thể khiến Brazil – quốc gia sản xuất đường lớn nhất thế giới – ưu tiên ethanol thay vì đường tinh luyện, qua đó ảnh hưởng đến nguồn cung đường xuất khẩu.
Tiêu biến động nhẹ
Theo dữ liệu từ Hiệp hội Hồ tiêu Quốc tế (IPC), giá tiêu đen xuất khẩu của Indonesia giảm nhẹ 0,13% so với phiên trước, xuống 6.973 USD/tấn.
Trong khi đó, giá tiêu tại các quốc gia sản xuất khác nhìn chung ổn định. Tiêu đen Brazil ASTA 570 được giao dịch ở mức 6.175 USD/tấn, còn tiêu đen Malaysia đạt 9.100 USD/tấn.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu dao động từ 6.400 – 6.500 USD/tấn đối với loại 500 g/l và 550 g/l.
Ca cao giảm do triển vọng dư cung
Giá ca cao thế giới lùi về quanh 2.900 USD/tấn sau khi không duy trì được mốc 3.000 USD/tấn trong phiên trước đó. Các yếu tố cung – cầu cơ bản tiếp tục tạo áp lực lên thị trường.
Triển vọng sản xuất tại khu vực Tây Phi được cải thiện nhờ điều kiện thời tiết thuận lợi, củng cố kỳ vọng nguồn cung dồi dào hơn trong niên vụ tới. Đồng thời, một số quốc gia Nam Mỹ, đặc biệt là Ecuador, đang gia tăng xuất khẩu.
Ở chiều ngược lại, nhu cầu tiêu thụ toàn cầu có dấu hiệu chững lại, khiến lượng tồn kho tăng và hạn chế khả năng phục hồi giá trong ngắn hạn.
Theo báo cáo cuối tháng 2 của Hedgepoint Global Markets, thị trường ca cao niên vụ 2025/26 được dự báo dư thừa khoảng 365.000 tấn. Sản lượng niên vụ 2024/25 ước đạt 4,728 triệu tấn, tăng 8,4% so với niên vụ trước.
Lúa mì giảm do USD mạnh lên
Hợp đồng lúa mì kỳ hạn trên Sở Giao dịch Hàng hóa Chicago (CBOT) khép lại phiên trong xu hướng suy yếu khi đồng USD tăng giá và lực mua kỹ thuật giảm dần.
Điều kiện thời tiết tại các khu vực trồng lúa mì mùa đông của Mỹ được cải thiện nhờ lượng mưa gia tăng, góp phần nâng triển vọng vụ mùa. Trong bối cảnh nguồn cung toàn cầu tương đối dồi dào, giá lúa mì tiếp tục chịu sức ép.
Kết thúc phiên giao dịch ngày 3/3, lúa mì mềm đỏ mùa đông tháng 5 giảm 3-1/4 cent xuống 5,74 USD/bushel. Lúa mì mùa đông đỏ cứng KC tháng 5 tăng 3-1/2 cent, đạt 5,78-1/4 USD/bushel. Lúa mì mùa xuân Minneapolis tháng 5 tăng 3-1/4 cent lên 6,13-1/4 USD/bushel.
Ngô tăng nhờ xuất khẩu và thị trường năng lượng
Giá ngô trên CBOT dao động trong biên độ hẹp nhưng đóng cửa cao hơn phiên trước, nhờ lực hỗ trợ từ thị trường năng lượng và nhóm đậu tương.
Bộ Nông nghiệp Hoa Kỳ (USDA) xác nhận doanh số bán 196.000 tấn ngô cho các thị trường chưa xác định. Bên cạnh đó, dữ liệu giá dự báo bảo hiểm cây trồng năm 2026 cho thấy giá ngô đang ở vùng thấp nhất kể từ năm 2021.
Hợp đồng ngô tháng 5 tăng 3/4 cent, chốt tại 4,46-1/2 USD/bushel.
Đậu tương tăng nhẹ nhưng nhu cầu còn thận trọng
Hợp đồng đậu tương trên CBOT biến động trong phiên và kết thúc với mức tăng nhẹ nhờ giá dầu duy trì xu hướng đi lên.
Tuy nhiên, đà tăng bị hạn chế bởi lo ngại về nhu cầu nhập khẩu cũng như áp lực cạnh tranh từ nguồn cung Brazil.
Kết phiên ngày 3/3, đậu tương tháng 5 tăng 6,5 cent lên 11,70-1/2 USD/bushel. Dầu đậu nành tháng 5 tăng 0,08 cent lên 62,82 cent/pound. Bột đậu nành tháng 5 tăng 1,80 USD, chốt ở 314,70 USD/tấn.
Cà phê quay đầu giảm
Giá cà phê robusta kỳ hạn tháng 5/2026 trên sàn London giảm 1,77% xuống 3.705 USD/tấn; hợp đồng tháng 7/2026 giảm 1,4%, còn 3.624 USD/tấn.
Trên sàn New York, giá arabica tháng 5/2026 giảm 0,48% xuống 286,95 US cent/pound.
Theo Barchart, giá cà phê suy yếu khi đồng Real Brazil giảm giá so với USD, qua đó hỗ trợ hoạt động bán ra từ phía xuất khẩu.
Dữ liệu từ Viện Cà phê Honduras cho thấy xuất khẩu cà phê Honduras trong tháng 2 đạt 1,44 triệu bao (loại 46 kg), tăng 82,5% so với cùng kỳ năm trước. Mỹ tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm 39% tổng lượng xuất khẩu.
Tồn kho arabica được chứng nhận tại ICE tăng lên 510.151 bao, song vẫn thấp hơn so với cùng kỳ năm trước. Bên cạnh đó, hoạt động vận tải biển quốc tế có sự điều chỉnh về tuyến đường, làm gia tăng chi phí logistics và ảnh hưởng nhất định tới thương mại cà phê toàn cầu.
N.Hao
Nguồn: VITIC




 

  PRINT     BACK

© Bộ Công Thương- Trung tâm Thông tin Công Nghiệp và Thương mại (VITIC)

Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 115/GP-TTĐT, cấp ngày 5/6/2024

Địa chỉ: Tòa nhà Bộ Công Thương, số 655 Phạm Văn Đồng, phường Nghĩa Đô, thành phố Hà Nội.

ĐT: (04)39341911; (04)38251312 và Fax: (04)38251312

Email: Asemconnectvietnam@gmail.com;

Ghi rõ nguồn "Asemconnectvietnam.gov.vn" khi đăng lại thông tin từ kênh thông tin này

Số lượt truy cập: 25741065232