Hệ thống ngân hàng hưởng lợi từ chương trình cải cách, lên kế hoạch lợi nhuận 2026 tăng trưởng mạnh
Thứ bảy, 28-2-2026
AsemconnectVietnam - Moody’s Ratings vừa công bố báo cáo chuyên sâu về chính sách của Chính phủ Việt Nam, trong đó cho rằng các cải cách đang triển khai sẽ góp phần xử lý những thách thức mang tính cấu trúc của hệ thống ngân hàng, đặc biệt là mức vốn hóa còn khiêm tốn và rủi ro chất lượng tài sản xuất phát từ mức độ tiếp xúc lớn với lĩnh vực bất động sản có đòn bẩy tài chính cao.
Theo báo cáo, việc xây dựng cơ sở dữ liệu bất động sản số, dự kiến có hiệu lực từ tháng 3/2026, sẽ giúp nâng cao tính minh bạch và hiệu quả vận hành của thị trường. Đây là bước đi tiếp nối chuỗi cải cách cơ cấu đã được thực hiện trong lĩnh vực bất động sản những năm gần đây, góp phần duy trì động lực thay đổi của thị trường.
Một trong những tác động đáng chú ý của các cải cách là việc siết chặt các điều kiện tài chính đối với chủ đầu tư, như yêu cầu vốn chủ sở hữu tối thiểu cho từng dự án. Quy định này sẽ định hướng dòng vốn và tăng trưởng về phía các doanh nghiệp có năng lực tài chính vững vàng hơn. Bên cạnh đó, cơ chế định giá đất linh hoạt hơn được kỳ vọng sẽ giảm tranh chấp, tháo gỡ các điểm nghẽn trong quá trình triển khai dự án. Việc làm rõ quy định liên quan đến sở hữu của nhà đầu tư nước ngoài cũng có thể kích thích nhu cầu từ bên ngoài, đồng thời bổ trợ cho sức cầu trong nước vốn duy trì ở mức tích cực.
Khi những cải thiện trong lĩnh vực bất động sản dần phát huy hiệu quả, năng lực trả nợ của các chủ đầu tư sẽ được củng cố, từ đó giảm áp lực lên chất lượng tài sản của hệ thống ngân hàng trong bối cảnh mức độ tiếp xúc với lĩnh vực này ngày càng gia tăng. Moody’s cho biết, tính đến ngày 30/9/2025, tăng trưởng tín dụng vào bất động sản đạt 42% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn đáng kể so với mức trung bình 27% trong giai đoạn 2022–2024 (Bảng 9). Tổ chức này kỳ vọng mức độ tiếp xúc của ngân hàng với bất động sản sẽ dần ổn định trong năm 2026, sau chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước về việc kiểm soát cho vay vào lĩnh vực này.
Ở một khía cạnh khác, các sửa đổi của Luật Các tổ chức tín dụng có hiệu lực từ cuối năm 2025 đã khôi phục quyền thu giữ tài sản bảo đảm của ngân hàng, qua đó nâng cao khả năng thu hồi nợ từ các khoản vay bất động sản không sinh lời. Điều này được kỳ vọng sẽ giúp kiểm soát chi phí tín dụng ròng của các ngân hàng (Bảng 10) trong vài năm tới, nhất là khi phần lớn các khoản vay bất động sản đều có tài sản bảo đảm.
Trước đó, các sửa đổi năm 2024 của Luật Các tổ chức tín dụng đã đưa ra giới hạn sở hữu chặt chẽ hơn và siết quy định về hạn mức cấp tín dụng đối với một khách hàng và người có liên quan, qua đó giảm rủi ro quản trị và rủi ro tập trung - những yếu tố tích cực đối với hồ sơ tín nhiệm của ngân hàng. Năm 2025, tỷ lệ dư nợ của 20 khách hàng lớn nhất so với vốn chủ sở hữu hữu hình bình quân của các ngân hàng được xếp hạng ở mức khoảng 106%, trong đó một số ngân hàng có mức độ tập trung cao hơn so với mặt bằng chung trong nước. Moody’s kỳ vọng rủi ro tập trung toàn hệ thống sẽ giảm dần trong những năm tới khi hạn mức cấp tín dụng đối với một khách hàng và người liên quan được hạ từng bước xuống còn 15% vốn tự có vào năm 2029.
Về yêu cầu an toàn vốn, các ngân hàng Việt Nam sẽ phải duy trì tỷ lệ vốn cấp 1 (Tier 1) tối thiểu 6,6% vào năm 2030 và tăng dần lên 8,5% vào năm 2033, so với mức 6% hiện nay. Song song với lộ trình tiệm cận các tiêu chuẩn Basel III, việc điều chỉnh phương pháp tính hệ số rủi ro tín dụng cũng sẽ tạo động lực để các ngân hàng tối ưu hóa tăng trưởng, trong bối cảnh mật độ tài sản có rủi ro của hệ thống hiện vẫn cao hơn đáng kể so với các ngân hàng trên thế giới.
Các ngân hàng quốc doanh lớn như Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank) và Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank) - hiện đều được Moody's xếp hạng tín nhiệm ở mức Ba2 cho tiền gửi và tổ chức phát hành, với triển vọng ổn định và mức đánh giá nền tảng tín dụng (BCA) là b1 - sẽ cần đẩy mạnh củng cố bộ đệm vốn do mức vốn hóa còn khiêm tốn so với phần lớn ngân hàng thương mại cổ phần tư nhân (Bảng 12). Trong bối cảnh khả năng tăng vốn từ lợi nhuận giữ lại còn hạn chế, Moody’s cho rằng các ngân hàng này có thể phải tăng vốn thông qua phát hành thêm hoặc từng bước giảm tỷ lệ sở hữu của Nhà nước trong vài năm tới. Một cải cách pháp lý gần đây cho phép các ngân hàng quốc doanh được giữ lại nguồn thu từ việc thoái vốn Nhà nước, qua đó tạo thêm dư địa tăng cường vốn hóa.
Một số ngân hàng hé lộ chỉ tiêu kinh doanh đầy tham vọng trong 2026, với mục tiêu tăng trưởng tín dụng và lợi nhuận tăng cao so với 2025.
VPBank định hướng lợi nhuận trước thuế hợp nhất tăng khoảng 30% so với cùng kỳ và tăng trưởng tín dụng khoảng 35% - cao hơn đáng kể mức tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống dự kiến khoảng 15% trong năm 2026.
Động lực tăng trưởng đến từ ngân hàng mẹ và các công ty con chủ chốt. Với mục tiêu tăng trưởng tín dụng 35%, động lực chủ yếu đến từ cho vay bán lẻ và doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME), trong khi tỷ trọng cho vay tín chấp được kỳ vọng tăng dần lên 10-11% danh mục.
Trong bối cảnh NHNN định hướng tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%, với kiểm soát thận trọng dòng vốn vào lĩnh vực bất động sản nhằm đảm bảo chất lượng, đại diện VPBank kỳ vọng tác động sẽ ở mức hạn chế nhờ hạn mức tín dụng ưu đãi và ngân hàng chủ động giảm tỷ trọng cho vay bất động sản xuống khoảng 23%.
BIDV phấn đấu lợi nhuận tăng trưởng từ 10 - 21% (có thể đạt trên 40.000 tỷ đồng). Chất lượng tài sản được kỳ vọng cải thiện với tỷ lệ nợ xấu giảm về 1,1%.
Tại hội nghị nhà đầu tư ngày 02/02/2026, Chủ tịch HĐQT Lưu Trung Thái chia sẻ, năm 2026, MB đặt kỳ vọng cao vào việc mở rộng quy mô hoạt động với mục tiêu tăng trưởng tín dụng và huy động vốn xoay quanh mức 35%. Chỉ số này cao hơn mặt bằng chung của thị trường nhờ lợi thế từ việc tham gia cơ cấu ngân hàng chuyển giao bắt buộc.
Về hiệu quả tài chính, MB dự kiến lợi nhuận sẽ tăng trưởng từ 15-20%, xấp xỉ 39.500 tỷ đồng. Trong đó, các công ty thành viên là những mũi nhọn kinh doanh trọng yếu, kỳ vọng đóng góp khoảng 12-13% vào tổng lợi nhuận tập đoàn.
Về cấu trúc kinh doanh, mảng bán lẻ vẫn là hạt nhân cốt lõi với mục tiêu tăng tỷ trọng từ 1.5 - 2% mỗi năm. Song song đó, MB sẽ đi sâu vào các lĩnh vực sản xuất chủ yếu, xuất khẩu và bắt đầu mở rộng phân khúc khách hàng FDI - những mảng mà ngân hàng có lợi thế cạnh tranh dài hạn. Đặc biệt, MB sẽ triển khai các mảng kinh doanh mới đầy tiềm năng như kinh doanh vàng và chuẩn bị các nền tảng an toàn để tham gia thị trường tài sản số.
Về quản trị vận hành, mục tiêu doanh thu từ kênh số sẽ được nâng lên mức 60% và năng suất lao động dự kiến tăng thêm 15% nhờ ứng dụng mạnh mẽ tự động hóa và AI vào quy trình. Về quản trị rủi ro và an toàn vốn, MB đặt mục tiêu tỷ lệ nợ xấu toàn tập đoàn được kiểm soát dưới 1.5% (riêng ngân hàng dưới 1%) và tỷ lệ bao phủ nợ xấu duy trì ở mức 100%.
Để hỗ trợ quy mô tăng trưởng cao trong giai đoạn 2026-2028, MB sẽ triển khai lộ trình tăng vốn mạnh, đảm bảo hệ số an toàn vốn (CAR) luôn đạt trên 10.5% và hướng tới việc áp dụng sớm Thông tư 14 (Basel III) theo phương pháp nâng cao (IRB), giúp tối ưu hóa tài sản rủi ro và nâng cao uy tín của MB trên thị trường quốc tế.
Đối với chính sách lãi suất, MB dự kiến duy trì mặt bằng lãi suất cho vay hợp lý, tập trung ưu tiên cho các nhu cầu ở thực của người dân và các ngành sản xuất theo định hướng của Chính phủ. MB sẽ không mở rộng biên lãi ròng (NIM) mà lấy quy mô và hiệu suất để bù đắp, nhằm đồng hành cùng sự phục hồi của nền kinh tế.
Techcombank hiện duy trì khoảng 20% huy động từ wholesale funding, một phần lớn đến từ huy động khách hàng. Ngân hàng cho biết sẽ tiếp tục giữ ổn định cơ cấu này, đặc biệt trong bối cảnh tỷ lệ cho vay trên huy động (LDR) đang gia tăng. Song song với đó, Techcombank chú trọng tăng cường bộ đệm vốn và thanh khoản nhằm đảm bảo an toàn hoạt động, đồng thời chuẩn bị cho lộ trình áp dụng chuẩn mực Basel III. Theo lãnh đạo Ngân hàng, điều này đòi hỏi Techcombank phải chủ động cải thiện các chỉ số an toàn, bao gồm LDR và các tỷ lệ theo yêu cầu của Basel III.
N.Nga
Nguồn: VITIC/Tinnhanhchungkhoan

