Thứ hai, 2-3-2026 - 1:46 GMT+7  Việt Nam EngLish 

Một số chỉ số kinh tế của Philippines tháng 1/2026 

 Thứ hai, 2-3-2026

AsemconnectVietnam - Tháng 1/2026, lạm phát sản xuất tại Philippines đạt mức cao nhất kể từ năm 2023.

Xuất khẩu và nhập khẩu hàng hóa của Philippines trong tháng 1/2026 đều ghi nhận giảm, thâm hụt thương mại giảm.
Tình hình lạm phát sản xuất tại Philippines tháng 1/2026
Giá sản xuất tại Philippines đã tăng 1,5% so với cùng kỳ năm ngoái trong tháng 1 năm 2026, tăng tốc so với mức 0,8% đã được điều chỉnh giảm trong tháng 12/2025 và đánh dấu mức cao nhất kể từ tháng 5 năm 2023.
Giá các sản phẩm thực phẩm đã tăng trở lại (1,3% so với -0,1% trong tháng 12), đóng góp 38,5% vào tốc độ tăng trưởng hàng năm nhanh hơn của chỉ số giá sản xuất (PPI).
Giá cũng tăng với tốc độ nhanh hơn đối với các sản phẩm máy tính, điện tử và quang học (2,6% so với 0,8%), máy móc và thiết bị trừ thiết bị điện (2,2% so với -0,4%), và các sản phẩm từ gỗ, tre, mây và các sản phẩm liên quan (1% so với -0,4%).
Trong khi đó, lạm phát giảm đối với than cốc và các sản phẩm dầu mỏ tinh chế (3,4% so với 4,3%) và các sản phẩm thuốc lá (1,9% so với 3,5%), trong khi giá giảm đối với thiết bị điện (-1,5% so với 0,2%) và quần áo (-0,5% so với 1,1%). So với tháng 12/2025, giá sản xuất tăng 0,5%, sau khi điều chỉnh giảm mức tăng 0,1% trong tháng 12.
Tình hình xuất khẩu hàng hóa của Philippines tháng 1/2026
Xuất khẩu của Philippines tăng 7,9% so với cùng kỳ năm ngoái lên 7,1 tỷ USD trong tháng 1 năm 2026, đánh dấu mức tăng trưởng chậm nhất kể từ cuối tháng 8/2025, sau khi tăng mạnh 23,9% trong tháng 12/2025.
Xuất khẩu các sản phẩm điện tử tăng (+18,8%), đây vẫn là mặt hàng xuất khẩu hàng đầu của đất nước, chiếm 56,5% tổng kim ngạch xuất khẩu.
Doanh số xuất khẩu cũng tăng đối với vàng (+263%) và máy móc thiết bị vận tải (+68,4%), nhưng những khoản tăng này đã bị bù đắp một phần bởi sự sụt giảm ở các mặt hàng sản xuất khác (-49,8%), dầu dừa (-17,5%), các sản phẩm khoáng sản khác (-43,2%), hóa chất (-23,5%) và quặng đồng (-10,7%).
Trong số các đối tác thương mại chính, xuất khẩu sang Mỹ, thị trường xuất khẩu lớn nhất chiếm 16,4% tổng số, đã tăng 3,1%.
Doanh số bán hàng cũng tăng sang Hồng Kông (+55,1%), Hàn Quốc (+49,1%) và Đức (+39,5%), trong khi xuất khẩu giảm sang Trung Quốc (-7,1%), Nhật Bản (-7,9%) và Thái Lan (-1,8%).
Tình hình nhập khẩu hàng hóa của Philippines tháng 1/2026
Nhập khẩu của Philippines giảm 3,1% so với cùng kỳ năm ngoái xuống còn 11,1 tỷ USD trong tháng 1 năm 2026, giảm so với mức tăng trưởng cao nhất trong 6 tháng được điều chỉnh tăng lên là 12,2% trong tháng trước.
Điều này đánh dấu mức giảm mạnh nhất kể từ tháng 11 năm 2024, chủ yếu do lượng mua nhiên liệu khoáng, chất bôi trơn và các vật liệu liên quan giảm (-25%), máy móc và thiết bị công nghiệp (-12,2%) và sắt thép (-19,7%).
Ngược lại, lượng hàng nhập khẩu tăng đối với các sản phẩm điện tử (18,6%), đặc biệt là thiết bị y tế/công nghiệp và chất bán dẫn. Lượng hàng nhập khẩu cũng tăng đối với ngũ cốc và các sản phẩm chế biến từ ngũ cốc (20%) và các sản phẩm kim loại (17,6%).
Trong số các đối tác thương mại lớn nhất của Philippines, Trung Quốc vẫn là nhà cung cấp hàng đầu, chiếm 29,2% tổng lượng nhập khẩu, mặc dù lượng hàng nhập khẩu giảm 1,7% so với cùng kỳ năm trước.
Nhập khẩu cũng giảm ở hầu hết các đối tác chính, đặc biệt là từ Indonesia (-11,5%), Thái Lan (-14,4%) và Singapore (-14%).
Thâm hụt thương mại của Philippines sụt giảm trong tháng 1/2026
Thâm hụt thương mại của Philippines giảm còn 4,0 tỷ USD trong tháng 1 năm 2026 so với mức 4,9 tỷ USD trong cùng kỳ năm trước, do xuất khẩu tăng trong khi nhập khẩu giảm. Kim ngạch xuất khẩu tăng 7,9% so với cùng kỳ năm ngoái, đạt 7,1 tỷ USD, chủ yếu nhờ sự tăng trưởng mạnh mẽ của các sản phẩm điện tử (+18,8%), mặt hàng xuất khẩu chủ lực của cả nước, chiếm 56,5% tổng kim ngạch xuất khẩu. Kim ngạch xuất khẩu vàng (+263%) và máy móc thiết bị vận tải (+68,4%) cũng tăng. Mỹ chiếm thị phần xuất khẩu lớn nhất (16,4%), tiếp theo là Hồng Kông (15,9%), Nhật Bản (12,3%) và Trung Quốc (9,8%).
Trong khi đó, nhập khẩu giảm 3,1% xuống còn 11,1 tỷ USD, do giảm nhập khẩu nhiên liệu khoáng, chất bôi trơn và các vật liệu liên quan (-25%), thiết bị vận tải (-3,3%) và máy móc thiết bị công nghiệp (-12,2%). Trung Quốc vẫn là nguồn nhập khẩu hàng hóa lớn nhất (29,2%), tiếp theo là Hàn Quốc (11,2%), Nhật Bản (8,3%) và Indonesia (7,1%).
CK
Nguồn: VITIC/tradingeconomics.com

  PRINT     BACK

© Bộ Công Thương- Trung tâm Thông tin Công Nghiệp và Thương mại (VITIC)

Giấy phép của Bộ Thông tin và Truyền thông số 115/GP-TTĐT, cấp ngày 5/6/2024

Địa chỉ: Tòa nhà Bộ Công Thương, số 655 Phạm Văn Đồng, phường Nghĩa Đô, thành phố Hà Nội.

ĐT: (04)39341911; (04)38251312 và Fax: (04)38251312

Email: Asemconnectvietnam@gmail.com;

Ghi rõ nguồn "Asemconnectvietnam.gov.vn" khi đăng lại thông tin từ kênh thông tin này

Số lượt truy cập: 25740908680