Năm 2026, lợi nhuận của ngành ngân hàng dự báo tăng so với năm 2025
Thứ sáu, 30-1-2026
AsemconnectVietnam - Năm 2026 được kỳ vọng là một năm bứt phá của ngành ngân hàng với lợi nhuận trước thuế toàn ngành dự báo tăng trưởng khoảng 19 - 20% so với năm vừa qua.
Động lực chính cho sự tăng trưởng này đến từ nhu cầu tín dụng duy trì ở mức cao và sự cải thiện của các yếu tố kinh tế vĩ mô. VCBS dự báo, tăng trưởng tín dụng có thể đạt từ 16 - 18%. Thậm chí, Vietcap còn lạc quan hơn, với mức dự phóng gần 20%. Các yếu tố được kỳ vọng sẽ thúc đẩy tăng trưởng tín dụng cao bao gồm chính sách tiền tệ nới lỏng, lãi suất điều hành thấp, sự phục hồi của phân khúc tín dụng tiêu dùng, cho vay mua nhà và đầu tư công, bất động sản…
Tuy nhiên, song song với đà tăng trưởng về quy mô tín dụng, biên lãi thuần (NIM) lại là một biến số gây nhiều tranh luận. Trong khi một số bên kỳ vọng NIM sẽ tạo đáy và đi lên thì không ít chuyên gia tài chính cảnh báo về áp lực thắt chặt biên lợi nhuận do chi phí vốn tăng cao…
Từ góc nhìn của PGS.TS. Nguyễn Hữu Huân, giảng viên Trường Đại học Kinh tế TP.HCM, mặc dù có triển vọng phục hồi, NIM toàn ngành ngân hàng trong năm 2026 vẫn phải đối mặt với những sức ép không nhỏ, xuất phát từ cả nội tại hệ thống lẫn bối cảnh thị trường tiền tệ. Đáng chú ý là lãi suất tiết kiệm có xu hướng tiếp tục đi lên, trong khi lãi suất lãi suất cho vay khó có thể tăng cao.
Theo ông Huân, xu hướng sụt giảm NIM chắc chắn còn dài hạn và sẽ ngày càng rõ nét hơn trong thời gian tới, vì áp lực cạnh tranh giữa các ngân hàng cũng như yêu cầu hỗ trợ nền kinh tế khiến việc duy trì NIM ở mức cao như trước đây trở nên thách thức. Sự sụt giảm này có thể không hoàn toàn là diễn biến bị động, tức là ngân hàng bị thị trường ép giảm NIM mà chủ động chấp nhận NIM mỏng hơn để theo đuổi mục tiêu tăng cường sức cạnh tranh, duy trì mặt bằng lãi suất cho vay ở mức thấp để thu hút thêm khách hàng mới và giữ chân khách hàng vay hiện hữu, qua đó gia tăng quy mô, thị phần tín dụng…
Còn theo phân tích của các chuyên gia phân tích Công ty Chứng khoán Agriseco, giai đoạn đầu năm 2026, NIM vẫn chịu áp lực do chi phí vốn tăng lên. Các ngân hàng đang phải đối mặt với sự cạnh tranh gay gắt trong việc thu hút tiền gửi, dẫn đến việc phải tăng lãi suất huy động. Đặc biệt, nhiều ngân hàng phải tăng cường huy động vốn qua kênh giấy tờ có giá với chi phí cao hơn đảm bảo các yêu cầu về bộ đệm vốn.
Một rủi ro lớn khác mà Vina Capital chỉ ra là, tỷ lệ dư nợ trên vốn huy động (LDR) thực tế của hệ thống đang ở mức rất cao, lên tới khoảng 110% nếu chỉ tính trên tiền gửi khách hàng. Đây là mức cao nhất trong vòng một thập kỷ qua. Khi tỷ lệ LDR căng thẳng, áp lực thanh khoản buộc ngân hàng phải tham gia vào cuộc đua tăng lãi suất huy động để thu hút tiền gửi, từ đó làm biên lợi nhuận bị thu hẹp đáng kể. Những ngân hàng có cơ cấu huy động vốn kém linh hoạt hoặc có tỷ lệ LDR thiếu bền vững sẽ gặp nhiều thách thức nhất trong việc bảo vệ NIM...
Vả lại, theo giới phân tích, mặt bằng lãi suất trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng khả năng được duy trì ở mức cao cho đến ít nhất là hết tháng 4/2026 do Ngân hàng Nhà nước cần giảm áp lực lên tỷ giá USD/VND trong bối cảnh dự trữ ngoại hối không còn quá dồi dào. Việc duy trì lãi suất liên ngân hàng cao sẽ trực tiếp đẩy chi phí vốn của ngân hàng phụ thuộc vào nguồn vốn này lên, gây khó khăn cho việc duy trì NIM.
Vai trò của CASA và số hóa
Tuy có nhiều áp lực, nhưng các chuyên gia vẫn nhìn thấy những kịch bản tích cực cho NIM, dựa trên sự chuyển dịch cơ cấu cho vay và sự phục hồi nhu cầu của nền kinh tế. Chẳng hạn, VCBS kỳ vọng NIM toàn ngành ngân hàng sẽ cải thiện từ 0,5 - 0,7 điểm phần trăm trong năm 2026. Sự phục hồi này đến từ nhu cầu tín dụng mạnh mẽ và việc chuyển dịch sang phân khúc bán lẻ, SME.
Trong khi đó, Vietcap cho rằng, NIM tăng nhẹ từ mức 3,14% trong năm 2025 lên khoảng 3,23% trong năm 2026 nhờ môi trường lãi suất cho vay bớt cạnh tranh và đẩy mạnh giải ngân vốn trung dài hạn. Nhưng nhìn chung, NIM toàn ngành ngân hàng khó đột phá do lãi suất huy động duy trì ở mức cao.
Vì thế, việc đẩy mạnh dịch vụ số được kỳ vọng sẽ giúp tỷ lệ CASA tăng lên. Nguồn vốn rẻ từ CASA là yếu tố then chốt giúp các ngân hàng giảm thiểu chi phí vốn bình quân, từ đó tối ưu NIM.
Tại Techcombank, đến cuối năm 2025 tiền gửi khách hàng tăng lên 17,9% so với cuối năm 2024; trong đó, CASA chiếm 40,4% tổng tiền gửi khách hàng, với số dư CASA tăng 16,6% so với cùng kỳ, lên 268.700 tỷ đồng. CASA đến từ phân khúc khách hàng cá nhân, bao gồm số dư sinh lời tự động tăng 17,7% so đầu năm; trong khi CASA từ doanh nghiệp tăng 14,8% so với đầu năm. Điều này phần nào tác động lên NIM, đóng góp tích cực vào con số 32.500 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế mà nhà băng này ghi nhận được trong năm vừa qua.
Áp lực và cơ hội đối với NIM trong năm 2026 sẽ phân hóa rõ nét giữa các nhà băng, dựa trên quy mô, tệp khách hàng và chất lượng tài sản của từng nhóm. Trong đó, nhóm ngân hàng có vốn nhà nước (BIDV, VietinBank, Vietcombank) dự kiến có mức NIM ổn định nhưng thấp hơn mặt bằng chung, dao động quanh 2,9 - 3%. Mặc dù có triển vọng mở rộng NIM từ nửa sau năm 2026 nhờ chất lượng tài sản tốt nhưng nhóm này vẫn đứng trước áp lực phải duy trì lãi suất cho vay thấp để hỗ trợ khách hàng, hỗ trợ nền kinh tế khiến NIM khó có sự bứt phá.
Đối với nhóm ngân hàng cổ phần tư nhân, các ngân hàng quy mô lớn như MB, Techcombank, VPBank, HDBank... được kỳ vọng sẽ phục hồi NIM, với mức trung bình có thể đạt trên 4,6% nhờ có hệ sinh thái đa dạng và tệp khách hàng cá nhân dồi dào, khả năng tối ưu hóa nguồn vốn và nâng cao tỷ trọng tín dụng bán lẻ, SME có tỷ lệ sinh lời cao. Đồng thời, các nhà băng này có tỷ lệ CASA cao, giúp quản trị chi phí vốn hiệu quả và đặc biệt là cơ chế ưu tiên tăng trưởng tín dụng cho các ngân hàng nhận chuyển giao bắt buộc hoặc có hệ số CAR cao. Ngược lại, nhóm ngân hàng quy mô nhỏ được dự báo có thể đối mặt khó khăn hơn trong năm 2026. Sau khi tăng trưởng mạnh trong năm 2025 nhờ mức nền thấp, nhóm ngân hàng này dự báo sẽ tăng trưởng chậm lại. Áp lực từ rủi ro nợ xấu cao, các quy định mới về hạn chế tín dụng có thể buộc họ phải tăng trích lập dự phòng, gây ảnh hưởng trực tiếp đến lợi nhuận và biên lãi thuần.
Một yếu tố không thể không đề cập đến khi bàn về NIM là chi phí tín dụng và nợ xấu. Theo đánh giá của TS. Châu Đình Linh, Trường Đại học Ngân hàng TP.HCM, mặc dù tỷ lệ nợ xấu năm 2026 được dự báo vẫn trong tầm kiểm soát nhờ đà phục hồi kinh tế nhưng vẫn tồn tại những rủi ro có thể “bào mòn” thành quả NIM. Rủi ro có thể đến từ việc đẩy mạnh cho vay bất động sản trong năm 2025, gây ra sự tập trung rủi ro ở lĩnh vực này. Ngoài ra, khi các khoản vay mua nhà hết thời gian ưu đãi, chuyển sang lãi suất thả nổi (khoảng 12 - 14%/năm ở một số ngân hàng), áp lực trả nợ của khách hàng cá nhân tăng lên, tiềm ẩn nguy cơ nợ quá hạn. Vì thế, các ngân hàng có tỷ lệ bao phủ nợ xấu thấp và tỷ trọng cho vay doanh nghiệp/trái phiếu doanh nghiệp cao sẽ đối mặt với áp lực trích lập lớn, làm giảm hiệu quả của việc cải thiện NIM. Ngược lại, những ngân hàng có bộ đệm dự phòng vững chắc và tệp khách hàng đa dạng sẽ có khả năng kiểm soát chi phí tín dụng tốt hơn, bảo vệ được thành quả lợi nhuận.
Một yếu tố kỹ thuật khác tác động đến NIM là tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung và dài hạn đã tăng mạnh tại nhiều ngân hàng. Điều này khiến cho dư địa để gia tăng tỷ trọng các khoản cho vay trung dài hạn với lợi suất cao không còn nhiều, hạn chế khả năng tối ưu hóa cấu trúc tài sản sinh lời để cải thiện NIM trong năm 2026.
Do lợi nhuận quá phụ thuộc vào tín dụng nên chênh lệch lãi suất huy động và cho vay (NIM) trở thành một chỉ tiêu trọng yếu nhất của mỗi ngân hàng, NIM cao đồng nghĩa với lợi nhuận lớn và ngược lại
Nhìn lại NIM của ngành ngân hàng trong năm 2025, tổng giám đốc một ngân hàng cổ phần ví von rằng, các tổ chức tín dụng vừa trải qua một cuộc thi “NIM mỏng nhất, nhưng vẫn sống tốt”. Với Ngân hàng X tự tin vì NIM thường cao hơn đối thủ, nhưng rồi do cạnh tranh giảm lãi cho vay để thu hút khách hàng trong bối cảnh chi phí huy động vẫn cao nên NIM bị thu hẹp lại. Trong khi đó, người gửi tiền lại chẳng mấy ai quan tâm tới NIM, mà chỉ thấy lãi gửi tiết kiệm thấp hơn trong bối cảnh giá cả tăng trong cuộc sống hàng ngày.
“Dù nhìn vào số liệu thì nghiêm túc, nhưng nếu tưởng tượng các ngân hàng trong vai trò các thí sinh nhút nhát sợ mất khách, thì NIM trở thành ‘giải thưởng’… không ai muốn đoạt. Bảng báo cáo quý với NIM càng mỏng xuất hiện như những tờ giấy chứng nhận ‘đáng buồn’ và cuộc thi này đến cuối cùng không có người thắng”, vị này nói.
Phó tổng giám đốc phụ trách khối nguồn vốn một ngân hàng cổ phần khác chia sẻ, thu nhập lãi thuần vẫn chịu nhiều áp lực trong những tháng cuối năm 2025, dù có sự hồi phục dần từ đầu quý III nhờ nhu cầu tín dụng mạnh mẽ, đặc biệt đến từ nhóm khách hàng cá nhân. Bên cạnh đó, “sức khỏe” tài chính của khách hàng cải thiện giúp hoàn nhập/giảm các khoản thoái lãi. Tuy nhiên, mức phục hồi NIM có sự phân hóa giữa các nhóm ngân hàng.
Cụ thể, những ngân hàng tư nhân năng động có lợi thế trong hoạt động huy động vốn với tỷ trọng CASA (tiền gửi không kỳ hạn) cao, có chất lượng tài sản tốt và tệp khách hàng đa dạng có triển vọng cải thiện NIM sớm hơn nhờ tối ưu hóa sử dụng vốn, nâng cao tỷ trọng tín dụng bán lẻ và doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) có tỷ lệ sinh lời cao. Còn NIM nhóm ngân hàng quốc doanh sẽ đi ngang/tăng nhẹ khi tiếp tục đứng trước áp lực giảm lãi suất hỗ trợ cho khách hàng.
Tác động tiêu cực từ chi phí vốn tăng kỳ vọng được bù đắp trong năm 2026, tới từ nhu cầu tín dụng cao trong bối cảnh nguồn cung được định mức, tăng trưởng cho vay bán lẻ cao hơn, giải ngân các khoản vay trung - dài hạn lớn hơn và chất lượng tài sản cải thiện.
“Ước tính NIM cho cả nhóm ngân hàng quốc doanh và ngân hàng tư nhân sẽ tăng 8 điểm cơ bản so với cùng kỳ trong năm 2026”, vị tổng giám đốc nhận định.
Đồng quan điểm, một lãnh đạo Vietcombank phân tích: “Nhu cầu tín dụng mạnh mẽ hơn, cùng với sự chuyển dịch sang cơ cấu cho vay trung - dài hạn, bán lẻ và doanh nghiệp SME. Các gói ưu đãi lãi suất quy mô lớn thời hạn 1-2 năm, đặc biệt là các gói cho vay mua nhà được nhiều ngân hàng tung ra từ năm 2023 sẽ chuyển sang lãi suất thả nổi, qua đó cải thiện lợi suất tài sản trong năm 2026”.
Dẫu vậy, một số yếu tố được lãnh đạo các ngân hàng nhận định có thể tác động đến khả năng hồi phục NIM, đó là tỷ lệ vốn ngắn hạn cho vay trung - dài hạn đã tăng mạnh ở nhiều ngân hàng, khiến dư địa để các ngân hàng có thể gia tăng tỷ trọng cho vay trung - dài hạn với lợi suất cao không còn nhiều. Đầu ra là như vậy, nhưng ngắn hạn thì NIM vẫn chịu áp lực giảm bởi lãi suất huy động đang tăng. Nhiều ngân hàng phải tăng cường huy động vốn qua kênh giấy tờ có giá với chi phí vốn cao hơn để đảm bảo yêu cầu bộ đệm vốn và gia tăng lãi suất huy động trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt để thu hút khách hàng, đặc biệt với những ngân hàng có cơ cấu huy động vốn kém linh hoạt.
Chưa dễ phục hồi
Với triển vọng NIM toàn ngành dự báo chỉ hồi phục nhẹ trong năm 2026, thậm chí tiếp tục chịu áp lực trong nửa đầu năm trước khi cải thiện rõ hơn từ nửa cuối năm, bức tranh hoạt động của ngành ngân hàng bước vào giai đoạn chuyển pha quan trọng: Từ tăng trưởng dựa vào biên lãi sang tăng trưởng dựa vào cấu trúc. Khi dư địa nới rộng chênh lệch lãi suất ngày càng hạn hẹp, NIM không còn đóng vai trò “động cơ chính” kéo lợi nhuận, mà trở thành thước đo phản ánh năng lực quản trị vốn, chất lượng tài sản và mức độ linh hoạt của từng mô hình kinh doanh ngân hàng.
Trong bối cảnh đó, thu nhập lãi thuần của các ngân hàng được dự báo vẫn tăng trưởng trong năm 2026, nhưng mức tăng mang tính ổn định hơn là bứt phá. Động lực chính đến từ tăng trưởng tín dụng cao hơn, đặc biệt ở các phân khúc bán lẻ, doanh nghiệp SME, các hộ kinh doanh trên nền tảng dữ liệu và các khoản vay trung - dài hạn có biên lợi suất tốt hơn, thay vì kỳ vọng vào việc mở rộng NIM như các chu kỳ trước. Tuy nhiên, chi phí vốn nhiều khả năng tiếp tục neo ở mức cao do áp lực cạnh tranh huy động, yêu cầu đảm bảo các tỷ lệ an toàn vốn và xu hướng gia tăng phát hành giấy tờ có giá, khiến khả năng cải thiện mạnh NIM bị giới hạn.
Điểm khác biệt trong năm 2026 so với giai đoạn trước, theo ông Lê Hoài Ân - CFA, Founder IFSS, nằm ở sự phân hóa rõ nét giữa các nhóm ngân hàng. Những ngân hàng có CASA cao, khả năng tối ưu hóa nguồn vốn, chất lượng tài sản tốt và tệp khách hàng đa dạng sẽ phục hồi NIM sớm và bền vững hơn. Ngược lại, các ngân hàng có cơ cấu huy động kém linh hoạt, phụ thuộc nhiều vào vốn kỳ hạn dài với chi phí cao tiếp tục chịu áp lực lên thu nhập lãi thuần, ngay cả khi tín dụng tăng trưởng tốt. Nói cách khác, khi NIM mỏng đi, lợi thế cạnh tranh không còn nằm ở “giá vốn rẻ” đơn thuần, mà ở khả năng phân bổ vốn hiệu quả và kiểm soát rủi ro tín dụng.
“Song song với đó, thu nhập ngoài lãi được kỳ vọng tiếp tục đóng vai trò bệ đỡ quan trọng cho lợi nhuận toàn ngành. Việc đẩy mạnh bancassurance, thanh toán, dịch vụ số và các sản phẩm tài chính tích hợp không chỉ giúp đa dạng hóa nguồn thu, mà còn làm giảm sự phụ thuộc vào biến động của NIM. Trong bối cảnh biên lãi khó mở rộng, chiến lược gia tăng tỷ trọng thu nhập phí và kiểm soát chi phí vận hành sẽ là yếu tố quyết định khả năng duy trì tăng trưởng lợi nhuận 2 chữ số của các ngân hàng trong năm 2026”, ông Ân nói.
Những thay đổi này cũng tác động trực tiếp tới thị trường cổ phiếu ngân hàng. Triển vọng lợi nhuận tăng trưởng tích cực, dù không còn dựa nhiều vào NIM, tiếp tục là yếu tố hỗ trợ mặt bằng định giá của nhóm cổ phiếu này trong trung hạn. Tuy nhiên, khác với giai đoạn trước, thị trường sẽ không còn nhìn nhóm ngân hàng như một “khối đồng nhất”. Thay vào đó, mức độ phân hóa giữa các cổ phiếu sẽ ngày càng rõ rệt, phản ánh sự khác biệt về cấu trúc nguồn vốn, chất lượng tài sản và chiến lược kinh doanh.
Những ngân hàng duy trì được NIM ổn định, kiểm soát tốt chi phí vốn và gia tăng hiệu quả sử dụng tài sản có khả năng tiếp tục được thị trường định giá cao hơn mặt bằng chung. Ngược lại, các ngân hàng chịu áp lực lớn từ chi phí huy động, dư địa tăng trưởng tín dụng hạn chế hoặc chất lượng tài sản kém linh hoạt sẽ đối mặt với rủi ro điều chỉnh định giá, ngay cả khi lợi nhuận danh nghĩa vẫn tăng. Điều này cho thấy, trong chu kỳ mới, cổ phiếu ngân hàng không còn là “câu chuyện của tăng trưởng tín dụng” đơn thuần, mà là chất lượng tăng trưởng.
Ở góc độ dài hạn, diễn biến NIM năm 2026 có thể được xem là phép thử cho sức bền của hệ thống ngân hàng. Khi lợi thế từ chu kỳ lãi suất không còn rõ ràng, các ngân hàng buộc phải tái định vị mô hình kinh doanh, cân bằng giữa tăng trưởng và an toàn, giữa mở rộng tín dụng và kiểm soát rủi ro. Với nhà đầu tư, đây cũng là giai đoạn cần chuyển trọng tâm từ kỳ vọng ngắn hạn sang đánh giá nền tảng dài hạn, nơi NIM không còn là con số để so sánh đơn thuần, mà là kết quả của cả một hệ sinh thái quản trị.
“Nếu năm 2025 là năm ‘NIM mỏng để tồn tại’, thì năm 2026 sẽ là năm ‘NIM đủ dùng để sàng lọc’ và chính quá trình sàng lọc đó sẽ định hình lại cả bức tranh hoạt động của ngành lẫn trật tự trên thị trường cổ phiếu ngân hàng trong giai đoạn tới”, vị tổng giám đốc trên nói.
Nguồn: VITIC/Tổng hợp
C69 - tăng tốc từ nền tảng nội lực vững chắc
Lợi nhuận của nhiều ngân hàng tăng mạnh trong năm 2025
So với nền cao năm trước, Vosco (VOS) giảm 9% lãi sau thuế năm 2025
Kinh doanh dưới giá vốn, Cảng phước An (PAP) ghi nhận lỗ 504,69 tỷ đồng trong năm 2025
Hòa Phát (HPG) nộp ngân sách 13.000 tỷ đồng
Năm 2025, FPT thắng thầu 26 dự án với quy mô hơn 10 triệu USD/dự án tại thị trường nước ngoài
Gas Shipping (GSP) vượt 42% kế hoạch doanh thu trong năm 2025
SSI hoàn tất tăng vốn lên gần 25.000 tỷ đồng
Nam A Bank (NAB) đạt 5.254 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, tăng trưởng 15,6% trong 2025
Nhiệt điện Quảng Ninh (QTP) vượt 128,5% mục tiêu lợi nhuận 2025
TCBS (TCX) đạt lợi nhuận năm 2025 hơn 7.100 tỷ đồng, tăng trưởng gần 50%
Searefico (SRF) nâng vốn đầu tư dự án kho ngoại tại khu công nghệ cao Đà Nẵng
VPBank (VPB) lập kỷ lục lợi nhuận 30.600 tỷ đồng năm 2025, tăng trưởng 53%
Năm 2025, DNSE tăng doanh thu 77%, chiếm 20% thị phần tài khoản mở mới

