Xuất nhập khẩu sắt thép năm 2025 và các thị trường chủ đạo
Thứ ba, 13-1-2026
AsemconnectVietnam - Theo tính toán từ số liệu của Cục Hải quan Việt Nam, trong năm 2025, Việt Nam xuất khẩu hơn 10,06 triệu tấn sắt thép, đạt kim ngạch khoảng 6,63 tỷ USD.
Trong khi đó, nhập khẩu sắt thép năm 2025 đạt 16,09 triệu tấn, trị giá khoảng 11,21 tỷ USD.
Tình hình xuất khẩu sắt thép của Việt Nam năm 2025
Theo tính toán từ số liệu của Cục Hải quan Việt Nam, trong năm 2025, cả nước xuất khẩu hơn 10,06 triệu tấn sắt thép, đạt kim ngạch khoảng 6,63 tỷ USD, giảm hơn 20% về khối lượng và trên 27% về trị giá so với cùng kỳ năm 2024. Giá xuất khẩu bình quân đạt 658,55 USD/tấn, giảm 8,47% so với cùng kỳ năm 2024, chủ yếu do dư cung trên thị trường thế giới, và sự cạnh tranh gay gắt giữa các quốc gia xuất khẩu lớn như Trung Quốc, Ấn Độ và Nga, trong khi nhu cầu thép tại các nền kinh tế phát triển sụt giảm.
Trong bối cảnh đó, các doanh nghiệp thép Việt Nam buộc phải chấp nhận mức giá thấp hơn để duy trì thị phần, dẫn đến giá trị xuất khẩu giảm mạnh, dù khối lượng xuất khẩu vẫn đạt quy mô tương đối lớn.
Riêng trong tháng 12/2025, xuất khẩu sắt thép của Việt Nam đạt 844.676 tấn, tăng 31,1% so với tháng 11/2025 và tăng 16,14% so với cùng kỳ 2024; kim ngạch đạt 547,8 triệu USD, tăng 24,54% so với tháng 11/2025 và tăng 2,87% so với cùng kỳ năm 2024, cho thấy nhu cầu nhập khẩu có cải thiện.
Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân tháng 12/2025 chỉ đạt 648,55 USD/tấn, giảm 5% so với tháng 11/2025 và giảm 11,43% so với cùng năm 2024, phản ánh áp lực giảm giá vẫn lớn. Điều này cho thấy tăng trưởng kim ngạch chủ yếu là do khối lượng xuất khẩu tăng.
Các thị trường xuất khẩu sắt thép chủ đạo của Việt Nam năm 2025
Trong năm 2025, Campuchia là thị trường xuất khẩu sắt thép lớn nhất của Việt Nam, với 1,46 triệu tấn, giá trị kim ngạch đạt 832,4 triệu USD, chiếm 14,5% về lượng và 12,56% về trị giá. So với năm 2024, xuất khẩu sang thị trường này tăng trưởng tích cực, với lượng tăng 21,36% và trị giá tăng 12,43%. Kết quả này cho thấy nhu cầu thép tại Campuchia vẫn ở mức cao, trong khi thép Việt Nam có lợi thế nhờ vị trí địa lý gần, chi phí logistics thấp và quan hệ thương mại ổn định. Tuy nhiên, tốc độ tăng trị giá thấp hơn so với mức tăng về lượng cho thấy giá xuất khẩu bình quân đã giảm so với năm 2024.
Ấn Độ là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai với 921.805 tấn, đạt giá trị 716,08 triệu USD, chiếm 9,16% về lượng và 10,81% về trị giá. So với năm 2024, xuất khẩu tăng 19,9% về lượng trong khi trị giá chỉ tăng 2,61%, cho thấy giá xuất khẩu chịu áp lực giảm mạnh do cạnh tranh gay gắt từ nguồn cung nội địa và các quốc gia trong khu vực. Giá xuất khẩu bình quân đạt 776,83 USD/tấn, giảm 14,42% so với cùng kỳ.
Italy đứng thứ 3, với 1,1 tấn, trị giá 680,11 triệu USD, chiếm 10,98% tổng lượng và 10,26% tổng kim ngạch xuất khẩu sắt thép của Việt Nam trong năm 2025. Xuất khẩu sang Italy giảm 14,74% về lượng và trị giá giảm 15,91% so với năm 2024.
Sự sụt giảm này phản ánh nhu cầu thép tại châu Âu vẫn ở mức thấp, do tăng trưởng kinh tế chậm, chi phí năng lượng cao và các quy định môi trường ngày càng nghiêm ngặt, trong đó có cơ chế điều chỉnh biên giới carbon (CBAM). Điều này đặt ra thách thức lớn đối với thép Việt Nam tại thị trường EU, buộc doanh nghiệp phải đẩy mạnh đầu tư vào công nghệ sản xuất xanh và nâng cao tiêu chuẩn chất lượng để duy trì và mở rộng thị phần trong thời gian tới.
Đáng chú ý, xuất khẩu sang Mỹ sụt giảm mạnh, chỉ đạt hơn 807 nghìn tấn, trị giá khoảng 531 triệu USD, giảm trên 50% về lượng và gần 60% về trị giá so với năm 2024, cho thấy tác động mạnh của các biện pháp phòng vệ thương mại, chính sách ưu tiên thép nội địa và sự chững lại của hoạt động xây dựng, sản xuất tại Mỹ.
Tại khu vực châu Á, xuất khẩu sắt thép sang các thị trường như Malaysia và Indonesia giảm mạnh cả về lượng và trị giá, trong khi xuất khẩu sang Thái Lan và Philippines tăng trưởng tích cực, đặc biệt xuất khẩu sang Thái Lan tăng gần 75% về lượng và hơn 48% về trị giá, phản ánh sự khác biệt về chu kỳ đầu tư và chính sách hạ tầng giữa các quốc gia ASEAN.
Trong khi đó, xuất khẩu sang một số thị trường như Anh, Brazil, Thổ Nhĩ Kỳ, Nhật Bản, UAE và Hồng Kông (Trung Quốc) giảm rất sâu, từ 40% đến gần 90% cả về lượng và trị giá, chủ yếu do suy thoái kinh tế, chi phí xây dựng cao và các yêu cầu nhập khẩu ngày càng khắt khe.
Tình hình nhập khẩu sắt thép của Việt Nam năm 2025
Theo tính toán từ số liệu của Cục Hải quan Việt Nam, trong năm 2025, Việt Nam nhập khẩu 16,09 triệu tấn sắt thép, trị giá khoảng 11,21 tỷ USD, giảm 9,16% về lượng và và trị giá giảm 10,9% so với cùng kỳ năm 2025. Điều này cho thấy nhu cầu nhập khẩu sắt thép có xu hướng chững lại, có thể do ảnh hưởng của việc đầu tư xây dựng giảm, thị trường bất động sản chưa phục hồi mạnh và khả năng tăng sản lượng thép trong nước.
Riêng trong tháng 12/2025, Việt Nam nhập khẩu khoảng 1,8 triệu tấn sắt thép, tăng 19,74% so với tháng 11/2025 và tăng 16,89% so với cùng kỳ năm 2024. Kim ngạch nhập khẩu đạt 1,21 tỷ USD, tăng 19,01% so với tháng 11/2025 và tăng 12,17% so với cùng kỳ năm 2024.
Giá nhập khẩu bình quân đạt 666,92 USD/tấn, giảm nhẹ 0,61% so với tháng 11/2025 và giảm 4,04% so với cùng kỳ năm 2024, cho thấy lượng nhập khẩu tăng chủ yếu do nhu cầu tăng, trong khi giá có xu hướng giảm.
Các thị trường nhập khẩu sắt thép chủ đạo của Việt Nam năm 2025
Trong năm 2025, Trung Quốc tiếp tục là nguồn cung sắt thép lớn nhất của Việt Nam, với 9,24 triệu tấn, trị giá 5,81 tỷ USD, chiếm 57,45% về lượng và 51,79% về trị giá. Tuy nhiên, so với năm 2024, nhập khẩu từ thị trường này giảm mạnh 22,52% về lượng và 22,47% về trị giá, phản ánh rõ xu hướng đa dạng hóa nguồn cung nhập khẩu của Việt Nam, đồng thời cho thấy nhu cầu tiêu thụ sắt thép chưa phục hồi hoàn toàn.
Đứng thứ 2 là Indonesia với 1,51 triệu tấn, trị giá 1,60 tỷ USD, tăng 79,79% về lượng và 26,85% về trị giá so với năm 2024. Nhờ đó, thị phần của Indonesia tăng lên 9,41% về lượng và 14,3% về trị giá, cao hơn đáng kể so với nhiều thị trường truyền thống khác. Đáng chú ý, tốc độ tăng về lượng cao hơn nhiều so với trị giá cho thấy giá nhập khẩu bình quân từ Indonesia có xu hướng giảm, giúp doanh nghiệp trong nước giảm chi phí đầu vào. Sự gia tăng mạnh mẽ này phản ánh vai trò ngày càng quan trọng của Indonesia trong chuỗi cung ứng sắt thép cho Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam chủ động đa dạng hóa nguồn nhập khẩu và tận dụng lợi thế từ các hiệp định thương mại khu vực.
Trong khi đó, Nhật Bản vẫn là thị trường cung ứng lớn và ổn định, với 2,18 triệu tấn, trị giá 1,43 tỷ USD, chiếm 13,57% về lượng và 12,75% về trị giá. So với năm 2024, lượng nhập khẩu gần như không biến động, chỉ giảm nhẹ 0,29%, trong khi trị giá giảm 4,97%, phản ánh giá nhập khẩu bình quân có xu hướng giảm và xu hướng doanh nghiệp ưu tiên các nguồn cung giá cạnh tranh hơn.
Nhập khẩu từ Hàn Quốc đạt 1,69 triệu tấn, chiếm 10,53%, tăng 18,96% về lượng.
CK
Nguồn: VITIC
Xuất khẩu sang Anh năm 2025 đạt hơn 8,3 tỷ USD
Xuất khẩu thuỷ sản Việt Nam năm 2025 và mục tiêu xuất khẩu năm 2026
Xuất nhập khẩu hàng hóa năm 2025 và mục tiêu xuất khẩu năm 2026
Nhập khẩu máy móc, thiết bị từ các thị trường 11 tháng năm 2025
Xuất khẩu thủy sản 11 tháng năm 2025 trị giá 10,32 tỷ USD
Những nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ yếu sang Nga trong 11 tháng năm 2025
Xuất khẩu sắt thép 11 tháng năm 2025 giảm cả lượng và kim ngạch
Xuất khẩu cà phê sang các thị trường 11 tháng năm 2025 tăng 60,9%
Kinh tế Slovakia và thương mại với Việt Nam 11 tháng năm 2025
Xuất khẩu rau quả 11 tháng năm 2025 đạt 701,17 triệu USD
Tình hình kinh tế Bỉ và quan hệ thương mại Việt – Bỉ
Triển vọng quan hệ và các giải pháp thúc đẩy thương mại Việt-Bỉ
Nhập khẩu sữa, sản phẩm sữa 11 tháng năm 2025 đạt gàn 1,27 tỷ USD
Nhập khẩu hàng hóa từ Anh tăng trong 10 tháng năm 2025

