Nhập khẩu sắt thép Việt Nam năm 2025 giảm mạnh trước áp lực thị trường
Thứ ba, 13-1-2026
AsemconnectVietnam - Theo Cục Hải quan Việt Nam, trong năm 2025, nước ta nhập 16,09 triệu tấn sắt thép, với tổng trị giá khoảng 11,21 tỷ USD. So với cùng kỳ năm 2024, nhập khẩu sắt thép giảm khá rõ rệt, trong đó lượng giảm 9,16% và trị giá giảm mạnh hơn, ở mức 10,9%. Điều này cho thấy nhu cầu nhập khẩu sắt thép có xu hướng chững lại, có thể do ảnh hưởng của suy giảm đầu tư xây dựng, thị trường bất động sản chưa phục hồi mạnh và khả năng tăng sản lượng thép trong nước.
Riêng trong tháng 12/2025, Việt Nam nhập khẩu khoảng 1,8 triệu tấn sắt thép, tăng 19,74% so với tháng 11/2025 và tăng 16,89% so với cùng kỳ năm 2024. Kim ngạch nhập khẩu đạt 1,21 tỷ USD, tăng 19,01% so với tháng trước và tăng 12,17% so với cùng kỳ năm trước. Giá nhập khẩu bình quân đạt 666,92 USD/tấn, giảm nhẹ 0,61% so với tháng 11/2025 và giảm 4,04% so với cùng kỳ năm 2024, cho thấy lượng nhập tăng chủ yếu nhờ nhu cầu, trong khi giá có xu hướng giảm.
Trong cả năm 2025, Trung Quốc tiếp tục là nguồn cung sắt thép lớn nhất của Việt Nam, với 9,24 triệu tấn, trị giá 5,81 tỷ USD, chiếm 57,45% về lượng và 51,79% về trị giá. Tuy nhiên, so với năm 2024, nhập khẩu từ thị trường này giảm mạnh, với mức giảm 22,52% về lượng và 22,47% về trị giá, phản ánh rõ xu hướng đa dạng hóa nguồn cung nhập khẩu của Việt Nam, đồng thời cho thấy nhu cầu tiêu thụ sắt thép chưa phục hồi hoàn toàn.
Đứng thứ 2 là Indonesia với 1,51 triệu tấn, trị giá 1,60 tỷ USD, tăng 79,79% về lượng và 26,85% về trị giá so với năm 2024. Nhờ đó, thị phần của Indonesia tăng lên 9,41% về lượng và 14,3% về trị giá, cao hơn đáng kể so với nhiều thị trường truyền thống khác. Đáng chú ý, tốc độ tăng về lượng cao hơn nhiều so với trị giá cho thấy giá nhập khẩu bình quân từ Indonesia có xu hướng giảm, giúp doanh nghiệp trong nước giảm chi phí đầu vào. Sự gia tăng mạnh mẽ này phản ánh vai trò ngày càng quan trọng của Indonesia trong chuỗi cung ứng sắt thép cho Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh Việt Nam chủ động đa dạng hóa nguồn nhập khẩu và tận dụng lợi thế từ các hiệp định thương mại khu vực.
Trong khi đó, Nhật Bản vẫn là thị trường cung ứng lớn và ổn định, với 2,18 triệu tấn, trị giá 1,43 tỷ USD, chiếm 13,57% về lượng và 12,75% về trị giá. So với năm 2024, lượng nhập khẩu gần như không biến động giảm nhẹ 0,29%, trong khi trị giá giảm 4,97%, phản ánh giá nhập khẩu bình quân có xu hướng giảm và xu hướng doanh nghiệp ưu tiên các nguồn cung giá cạnh tranh hơn.
Hàn Quốc xếp sau với 1,69 triệu tấn, chiếm 10,53%, trong đó nhập khẩu từ Hàn Quốc lại tăng khá tích cực, đặc biệt về lượng tăng 18,96%.
Ngoài các thị trường chủ lực như Trung Quốc, Indonesia và Nhật Bản, các thị trường còn lại chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ (phần lớn dưới 2%) trong tổng nhập khẩu sắt thép của Việt Nam năm 2025, nhưng xu hướng biến động khá rõ rệt. Một số thị trường tuy quy mô còn hạn chế nhưng ghi nhận mức tăng trưởng mạnh, tiêu biểu như Malaysia, Phần Lan, Brazil, Bỉ…, với mức tăng từ vài chục đến hàng trăm phần trăm so với năm 2024. Điều này cho thấy Việt Nam đang mở rộng và đa dạng hóa nguồn cung, tận dụng lợi thế từ các hiệp định thương mại và sự dịch chuyển của chuỗi cung ứng toàn cầu.
Ngược lại, nhiều thị trường truyền thống lại sụt giảm mạnh cả về lượng và trị giá, đáng chú ý là Mỹ, Ấn Độ, Áo, New Zealand, Singapore và Hồng Kông. Xu hướng này phản ánh nhu cầu tiêu thụ trong nước chưa phục hồi mạnh, đồng thời cho thấy sự chuyển dịch trong chiến lược nhập khẩu, ưu tiên các nguồn cung có giá cạnh tranh hơn và chi phí logistics thuận lợi, đặc biệt trong khu vực châu Á.
Nhìn chung, trong năm 2025, nhập khẩu sắt thép của Việt Nam có xu hướng giảm cả về lượng và trị giá. Mặc dù Trung Quốc vẫn giữ vai trò nguồn cung chủ đạo, song mức sụt giảm mạnh từ thị trường này cho thấy sự điều chỉnh rõ rệt trong cơ cấu nhập khẩu. Đồng thời, sự gia tăng đáng kể từ Indonesia và một số thị trường mới phản ánh nỗ lực đa dạng hóa nguồn cung, giảm dần sự phụ thuộc vào một thị trường duy nhất, qua đó giúp Việt Nam nâng cao khả năng thích ứng và chủ động hơn trước những biến động của bối cảnh kinh tế trong nước và quốc tế.
Nhập khẩu sắt thép các loại năm 2025
(Tính toán theo số liệu công bố ngày 12/12/2026 của CHQ)
|
Thị trường
|
2025
|
2025 so với 2024 (%)
|
Tỷ trọng (%)
|
|||
|
Lượng (tấn)
|
Trị giá (USD)
|
Lượng
|
Trị giá
|
Lượng
|
Trị giá
|
|
|
Tổng cộng
|
16.091.651
|
11.212.590.124
|
-9,16
|
-10,9
|
100
|
100
|
|
Trung Quốc (Đại lục)
|
9.244.165
|
5.807.093.739
|
-22,52
|
-22,47
|
57,45
|
51,79
|
|
Indonesia
|
1.514.796
|
1.603.536.791
|
79,79
|
26,85
|
9,41
|
14,3
|
|
Nhật Bản
|
2.183.235
|
1.430.018.266
|
-0,29
|
-4,97
|
13,57
|
12,75
|
|
Hàn Quốc
|
1.693.849
|
1.312.949.280
|
18,96
|
4,3
|
10,53
|
11,71
|
|
Đài Loan (Trung Quốc)
|
914.865
|
609.655.823
|
5
|
-3,82
|
5,69
|
5,44
|
|
Malaysia
|
197.966
|
110.907.925
|
648,09
|
327,82
|
1,23
|
0,99
|
|
Ấn Độ
|
129.272
|
106.032.734
|
-47,47
|
-41,76
|
0,8
|
0,95
|
|
Thái Lan
|
49.179
|
56.524.136
|
-4,1
|
-15,25
|
0,31
|
0,5
|
|
Đức
|
8.203
|
26.017.979
|
80,48
|
52,49
|
0,05
|
0,23
|
|
Australia
|
58.903
|
25.287.352
|
27,16
|
13,85
|
0,37
|
0,23
|
|
Thụy Điển
|
6.679
|
19.447.848
|
51,45
|
33,61
|
0,04
|
0,17
|
|
Pháp
|
1.411
|
18.301.034
|
74,85
|
-4,33
|
0,01
|
0,16
|
|
Mỹ
|
3.685
|
14.853.738
|
-44,75
|
-18,18
|
0,02
|
0,13
|
|
Philippines
|
2.853
|
14.072.346
|
108,86
|
120,71
|
0,02
|
0,13
|
|
Nam Phi
|
28.290
|
12.756.167
|
69,56
|
45,61
|
0,18
|
0,11
|
|
Bỉ
|
7.822
|
4.419.730
|
356,09
|
110,72
|
0,05
|
0,04
|
|
Tây Ban Nha
|
2.699
|
3.911.440
|
2,31
|
-0,73
|
0,02
|
0,03
|
|
Phần Lan
|
1.853
|
3.585.612
|
480,88
|
227,91
|
0,01
|
0,03
|
|
Italy
|
1.122
|
2.906.018
|
142,33
|
108,22
|
0,01
|
0,03
|
|
Hà Lan
|
3.763
|
2.501.775
|
189,68
|
31,72
|
0,02
|
0,02
|
|
Anh
|
3.725
|
2.084.794
|
95,23
|
17,75
|
0,02
|
0,02
|
|
Thổ Nhĩ Kỳ
|
1.340
|
1.694.836
|
1,59
|
-0,74
|
0,01
|
0,02
|
|
Áo
|
306
|
1.632.096
|
-69,28
|
-84,16
|
0
|
0,01
|
|
Canada
|
505
|
716.364
|
-36,56
|
64,14
|
0
|
0,01
|
|
Nga
|
735
|
693.684
|
-5,16
|
22,96
|
0
|
0,01
|
|
Ba Lan
|
258
|
635.296
|
11,69
|
72,06
|
0
|
0,01
|
|
New Zealand
|
1.349
|
611.060
|
-78,34
|
-79
|
0,01
|
0,01
|
|
Brazil
|
561
|
479.186
|
610,13
|
253,37
|
0
|
0
|
|
Mexico
|
460
|
417.747
|
-69,64
|
-66,9
|
0
|
0
|
|
Saudi Arabia
|
69
|
119.165
|
-65,5
|
-48,98
|
0
|
0
|
|
Đan Mạch
|
44
|
113.262
|
-39,73
|
-40,1
|
0
|
0
|
|
Singapore
|
41
|
87.468
|
-93,35
|
-85,27
|
0
|
0
|
|
Hồng Kông (Trung Quốc)
|
21
|
41.934
|
-68,18
|
-59,81
|
0
|
0
|
Nguồn: Cục Hải quanViệt Nam
N.Hao
Nguồn: VITIC
Nguồn: VITIC
Thiếu hụt kim loại đồng toàn cầu có thể trở thành rủi ro hệ thống
Indonesia: Sẵn sàng xuất khẩu gạo, ngô và gia hạn chương trình phân phối trợ giá
Philippines chính thức quay trở lại thị trường gạo quốc tế
Xuất khẩu sắt thép Việt Nam năm 2025: Áp lực giá gia tăng, kim ngạch suy giảm
Thị trường kim loại thế giới ngày 10/1: Vàng và đồng tăng mạnh, thép chịu áp lực giảm
Thị trường nông sản thế giới ngày 9/1: Ngô giảm nhẹ, ca cao ổn định
Thị trường hàng hóa thế giới ngày 9/1: Kim loại cơ bản và thép đồng loạt giảm, vàng đi ngang
IEA: Nhu cầu than toàn cầu đạt mức kỷ lục vào năm 2025
Giá xuất khẩu HRC của Trung Quốc tăng khi năm mới bắt đầu
BMI nâng dự báo giá than luyện cốc trong bối cảnh nguồn cung thắt chặt
Thị trường nông sản thế giới ngày 8/1: Cà phê bật tăng mạnh, đậu tương lên cao nhất từ cuối tháng 12
Thị trường kim loại thế giới ngày 8/1: Giá đồng và quặng sắt bật tăng mạnh
Giá nông sản giảm sâu - thách thức lớn với thu nhập của nông dân toàn cầu
GMK Center dự báo giá quặng sắt 2026 giảm 7%

