6 tháng đầu năm nhập khẩu sắt thép của Việt Nam giảm
Thứ ba, 5-8-2025
AsemconnectVietnam - Theo số liệu từ Cục Hải quan Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm 2025, Việt Nam đã nhập khẩu hơn 7,57 triệu tấn sắt thép, giảm 7,94% so với cùng kỳ năm 2024. Tuy nhiên, kim ngạch nhập khẩu chỉ giảm nhẹ 2,12%, đạt khoảng 5,38 tỷ USD. Giá nhập khẩu trung bình đạt 710,33 USD/tấn, giảm 2,12% so với tháng trước.
Riêng trong tháng 6/2025, lượng sắt thép nhập khẩu đạt 1,16 triệu tấn, giảm 9,63% so với tháng trước và giảm 9,1% so với cùng kỳ năm 2024. Giá trị kim ngạch đạt 833,7 triệu USD, giảm 11,29% so với tháng trước và giảm 10,77% so với cùng kỳ năm ngoái. Giá nhập khẩu trung bình trong tháng đạt 714,58 USD/tấn, giảm 1,83% so với tháng trước và giảm tương ứng so với cùng kỳ năm 2024.
Trung Quốc tiếp tục giữ vị trí là thị trường cung cấp lớn nhất với hơn 4,42 triệu tấn, chiếm tới 58,47% tổng lượng nhập khẩu. Tuy nhiên, cả về lượng và tỷ trọng đều sụt giảm mạnh, lần lượt giảm 22,56% và 23,36%. Đây là mức sụt giảm đáng chú ý, phản ánh xu hướng giảm phụ thuộc vào nguồn cung từ Trung Quốc trong bối cảnh nhiều thị trường khác tăng trưởng mạnh.
Indonesia nổi bật với mức tăng trưởng ấn tượng 102,02% về lượng, đưa tổng lượng nhập khẩu từ nước này lên gần 670 nghìn tấn. Dù trị giá nhập khẩu từ Indonesia giảm 28,52%, nhưng quốc gia này đã vươn lên chiếm 8,84% thị phần, cho thấy mức giá nhập khẩu từ đây thấp hơn đáng kể.
Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn nằm trong nhóm các thị trường lớn, lần lượt cung cấp 1,2 triệu tấn và hơn 700 nghìn tấn sắt thép cho Việt Nam. Dù lượng nhập khẩu từ Nhật Bản tăng 37,38%, trị giá lại giảm 12,2%, trong khi Hàn Quốc tăng nhẹ 24,29% về lượng nhưng trị giá giảm tới 14,15%.
Một số thị trường nhỏ nhưng tăng trưởng mạnh gây chú ý, như Malaysia tăng 93,26% về lượng, Ấn Độ giảm 95,64% nhưng trị giá lại tăng tới 317,78%. Australia, dù chỉ chiếm 0,39% thị phần, nhưng tăng tới 69,67% về lượng nhập.
Một số thị trường mới hoặc nhỏ như Philippines, Nam Phi, Phần Lan hay Nga ghi nhận mức tăng đột biến. Philippines tăng hơn 4.000% về lượng, Nam Phi tăng 537%, Phần Lan tăng 206%, trong khi Nga tăng hơn 3.000%, dù tổng lượng nhập khẩu thực tế vẫn thấp.
Ở chiều ngược lại, nhiều thị trường truyền thống lại có sự sụt giảm mạnh như Mỹ giảm 46,51% về lượng, Tây Ban Nha giảm 55,44%, Hà Lan giảm 39,36%, Áo giảm 53,9% và Singapore giảm 97,14%.
Cơ cấu nhập khẩu sắt thép trong nửa đầu năm nay cho thấy sự dịch chuyển rõ rệt trong nguồn cung. Việt Nam đang dần giảm phụ thuộc vào các thị trường lớn như Trung Quốc và đa dạng hóa nguồn cung từ các nước trong khu vực ASEAN và các thị trường mới nổi.
Nguồn: Cục Hải quanViệt Nam
Đối với phế liệu sắt thép – nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy luyện thép – kim ngạch tháng 6 đạt 167,3 triệu USD, tương đương 500.299 tấn. Dù giảm nhẹ theo tháng, nhưng lũy kế 6 tháng đạt 3,03 triệu tấn – tăng 24,2% so với cùng kỳ 2024, cho thấy nhu cầu ổn định từ các doanh nghiệp luyện thép bằng lò điện.
Nhập khẩu thép thành phẩm tiếp tục duy trì ở mức cao, với kim ngạch tháng 6 đạt 695,7 triệu USD. Tổng cộng 6 tháng đầu năm, giá trị nhập khẩu sản phẩm từ sắt thép đạt khoảng 3,6 tỷ USD, tăng 20,4% so với cùng kỳ. Đây là tín hiệu cho thấy nhu cầu thép trong nước, đặc biệt từ lĩnh vực xây dựng và chế tạo, vẫn rất lớn.
N.Hao
Nguồn: VITIC
Trung Quốc tiếp tục giữ vị trí là thị trường cung cấp lớn nhất với hơn 4,42 triệu tấn, chiếm tới 58,47% tổng lượng nhập khẩu. Tuy nhiên, cả về lượng và tỷ trọng đều sụt giảm mạnh, lần lượt giảm 22,56% và 23,36%. Đây là mức sụt giảm đáng chú ý, phản ánh xu hướng giảm phụ thuộc vào nguồn cung từ Trung Quốc trong bối cảnh nhiều thị trường khác tăng trưởng mạnh.
Indonesia nổi bật với mức tăng trưởng ấn tượng 102,02% về lượng, đưa tổng lượng nhập khẩu từ nước này lên gần 670 nghìn tấn. Dù trị giá nhập khẩu từ Indonesia giảm 28,52%, nhưng quốc gia này đã vươn lên chiếm 8,84% thị phần, cho thấy mức giá nhập khẩu từ đây thấp hơn đáng kể.
Nhật Bản và Hàn Quốc vẫn nằm trong nhóm các thị trường lớn, lần lượt cung cấp 1,2 triệu tấn và hơn 700 nghìn tấn sắt thép cho Việt Nam. Dù lượng nhập khẩu từ Nhật Bản tăng 37,38%, trị giá lại giảm 12,2%, trong khi Hàn Quốc tăng nhẹ 24,29% về lượng nhưng trị giá giảm tới 14,15%.
Một số thị trường nhỏ nhưng tăng trưởng mạnh gây chú ý, như Malaysia tăng 93,26% về lượng, Ấn Độ giảm 95,64% nhưng trị giá lại tăng tới 317,78%. Australia, dù chỉ chiếm 0,39% thị phần, nhưng tăng tới 69,67% về lượng nhập.
Một số thị trường mới hoặc nhỏ như Philippines, Nam Phi, Phần Lan hay Nga ghi nhận mức tăng đột biến. Philippines tăng hơn 4.000% về lượng, Nam Phi tăng 537%, Phần Lan tăng 206%, trong khi Nga tăng hơn 3.000%, dù tổng lượng nhập khẩu thực tế vẫn thấp.
Ở chiều ngược lại, nhiều thị trường truyền thống lại có sự sụt giảm mạnh như Mỹ giảm 46,51% về lượng, Tây Ban Nha giảm 55,44%, Hà Lan giảm 39,36%, Áo giảm 53,9% và Singapore giảm 97,14%.
Cơ cấu nhập khẩu sắt thép trong nửa đầu năm nay cho thấy sự dịch chuyển rõ rệt trong nguồn cung. Việt Nam đang dần giảm phụ thuộc vào các thị trường lớn như Trung Quốc và đa dạng hóa nguồn cung từ các nước trong khu vực ASEAN và các thị trường mới nổi.
(Tính toán theo số liệu công bố ngày 12/07/2025 của CHQ)
Thị trường
|
6 Tháng/2025
|
Tăng giảm so với
6 tháng/2024 (%)
|
Tỷ trọng (%)
|
|||
Lượng (tấn)
|
Trị giá (USD)
|
Lượng
|
Trị giá
|
Lượng
|
Trị giá
|
|
Tổng cộng
|
7.572.821
|
5.379.195.346
|
-7,94
|
-2,12
|
100
|
100
|
Trung Quốc (Đại lục)
|
4.427.826
|
2.810.940.837
|
-22,56
|
-1,04
|
58,47
|
52,26
|
Indonesia
|
669.728
|
776.983.404
|
102,02
|
-28,52
|
8,84
|
14,44
|
Nhật Bản
|
1.207.374
|
774.207.634
|
37,38
|
-12,2
|
15,94
|
14,39
|
Hàn Quốc
|
706.364
|
576.995.897
|
24,29
|
-14,15
|
9,33
|
10,73
|
Đài Loan (Trung Quốc)
|
423.399
|
287.137.665
|
-6,59
|
-9,09
|
5,59
|
5,34
|
Malaysia
|
37.001
|
23.950.729
|
93,26
|
-29,59
|
0,49
|
0,45
|
Ấn Độ
|
7.775
|
22.596.143
|
-95,64
|
317,78
|
0,1
|
0,42
|
Thái Lan
|
18.922
|
22.399.216
|
-32,52
|
3,77
|
0,25
|
0,42
|
Australia
|
29.637
|
12.793.498
|
69,67
|
-15,59
|
0,39
|
0,24
|
Đức
|
3.701
|
10.009.802
|
96,13
|
-38,4
|
0,05
|
0,19
|
Thụy Điển
|
2.779
|
9.686.039
|
24,73
|
16,21
|
0,04
|
0,18
|
Pháp
|
544
|
8.684.163
|
19,56
|
-34,9
|
0,01
|
0,16
|
Mỹ
|
1.588
|
8.208.021
|
-46,51
|
101,34
|
0,02
|
0,15
|
Philippines
|
867
|
7.405.382
|
4,028,57
|
-86,12
|
0,01
|
0,14
|
Nam Phi
|
11.623
|
5.448.991
|
537,58
|
-30,81
|
0,15
|
0,1
|
Tây Ban Nha
|
1.528
|
2.527.935
|
55,44
|
12,7
|
0,02
|
0,05
|
Phần Lan
|
597
|
2.290.928
|
206,15
|
11,07
|
0,01
|
0,04
|
Italy
|
490
|
1.304.152
|
79,49
|
18,69
|
0,01
|
0,02
|
Bỉ
|
1.038
|
909.514
|
-20,15
|
-18,73
|
0,01
|
0,02
|
Anh
|
1.160
|
873.953
|
52,03
|
13,46
|
0,02
|
0,02
|
Hà Lan
|
661
|
727.816
|
-39,36
|
-22,18
|
0,01
|
0,01
|
Áo
|
213
|
721.793
|
-53,9
|
-62,82
|
0
|
0,01
|
New Zealand
|
1.349
|
611.060
|
-5,99
|
-11,77
|
0,02
|
0,01
|
Thổ Nhĩ Kỳ
|
429
|
593.693
|
-51,08
|
7,33
|
0,01
|
0,01
|
Canada
|
427
|
538.738
|
-11,59
|
143,19
|
0,01
|
0,01
|
Nga
|
716
|
507.452
|
3,013,04
|
-80,74
|
0,01
|
0,01
|
Ba Lan
|
168
|
412.071
|
84,62
|
20,16
|
0
|
0,01
|
Mexico
|
418
|
381.427
|
-19,31
|
10,9
|
0,01
|
0,01
|
Ả Rập Xê Út
|
44
|
87.980
|
-72,33
|
124,23
|
0
|
0
|
Đan Mạch
|
32
|
85.484
|
-8,57
|
3,3
|
0
|
0
|
Brazil
|
93
|
79.190
|
30,99
|
-37
|
0
|
0
|
Singapore
|
13
|
36.956
|
-97,14
|
189,14
|
0
|
0
|
Hồng Kông (Trung Quốc)
|
10
|
21.231
|
-77,27
|
103,07
|
0
|
0
|
Đối với phế liệu sắt thép – nguyên liệu đầu vào cho các nhà máy luyện thép – kim ngạch tháng 6 đạt 167,3 triệu USD, tương đương 500.299 tấn. Dù giảm nhẹ theo tháng, nhưng lũy kế 6 tháng đạt 3,03 triệu tấn – tăng 24,2% so với cùng kỳ 2024, cho thấy nhu cầu ổn định từ các doanh nghiệp luyện thép bằng lò điện.
Nhập khẩu thép thành phẩm tiếp tục duy trì ở mức cao, với kim ngạch tháng 6 đạt 695,7 triệu USD. Tổng cộng 6 tháng đầu năm, giá trị nhập khẩu sản phẩm từ sắt thép đạt khoảng 3,6 tỷ USD, tăng 20,4% so với cùng kỳ. Đây là tín hiệu cho thấy nhu cầu thép trong nước, đặc biệt từ lĩnh vực xây dựng và chế tạo, vẫn rất lớn.
N.Hao
Nguồn: VITIC
Thị trường kim loại thế giới ngày 6/8: Giá vàng lên đỉnh gần hai tuần, nhiều kim loại công nghiệp hồi phục
Thị trường nông sản thế giới ngày 6/8: Giá cà phê và ca cao tăng mạnh
Dòng chảy thương mại càphê trước áp lực thuế quan mới
Xuất khẩu thép không gỉ của Trung Quốc giảm mạnh trong tháng 6
Giá thép cây tháng 7 biến động do nhu cầu yếu
OPEC+ nhất trí duy trì tăng sản lượng dầu mỏ
Giá phân bón thế giới tăng trong tháng 7/2025
Thị trường đậu tương thế giới tháng 7/2025
Thị trường lúa mì thế giới tháng 7/2025
Thị trường ngô thế giới tháng 7/2025
Xuất khẩu dầu mỏ của Iran vượt mốc 46 tỷ USD bất chấp lệnh trừng phạt
Nga tạm dừng áp thuế xuất khẩu đối với dầu hướng dương
Dự trữ vàng của Trung Quốc tiếp tục tăng trong nửa đầu năm 2025
Các nhà xuất khẩu lúa mì Ukraine chuyển hướng sang châu Á và châu Phi trong bối cảnh EU gia hạn thuế quan